Luận quẻ
Quẻ đa động
Tác giả Vi Nhật Sơn · Cập nhật
Quẻ đa động là gì? Quẻ đa động là quẻ từ 3 hào động trở lên: các hào tự triệt tiêu hoặc triệt tiêu lẫn nhau thành tối đa hai nhóm ngũ hành, rồi lấy kết quả quy chiếu với Dụng…
Về lý thuyết, tất cả các quẻ đều có thể xem được, không cứ phải quẻ không động hay quẻ cả 6 đều động. Quẻ động càng nhiều, thông tin càng nhiều. Nhưng về thực tế, quẻ động nhiều sẽ có khả năng đáp ứng được yếu tố thứ 2 trong nguyên tắc là quẻ đúng, tức người hỏi không đủ sự tập trung cho câu hỏi của mình. Vậy, quẻ đa động sẽ xem thế nào?
Quẻ hai hào động, đã có bài riêng, nội dung hôm nay chỉ tập trung vào quẻ từ 3 hào động trở lên.
Loại 1: Gom thành hai nhóm ngũ hành
Về cách xem quẻ đa động, có hai dạng quẻ đa động:
Loại 1: Các hào có sự tự triệt tiêu, hoặc triệt tiêu lẫn nhau mà hình thành tối đa hai nhóm ngũ hành, sau đó ta lấy hai nhóm ngũ hành đấy tác động lẫn nhau theo nguyên tắc ngũ hành nào mạnh hơn sẽ lấy hành đấy. Quẻ đa động nhóm này, khó nhất là thời điểm ứng kỳ, vì nếu nhóm hào khắc nhau, cùng vượng thì lấy nhóm mạnh hơn, rồi lấy kết quả đó đối chiếu với Dụng và Thế để ra kết quả cuối cùng như quẻ đơn động. Ví dụ: Minh Di hóa Tỉnh
| Phụ Mẫu | Dậu Kim | |||||
| Huynh Đệ | Hợi Thủy | × | Quan Quỷ · Tuất Thổ | |||
| Quan Quỷ | Sửu Thổ | Thế | ||||
| Huynh Đệ | Hợi Thủy | |||||
| Quan Quỷ | Sửu Thổ | × | Huynh Đệ · Hợi Thủy | |||
| Tử Tôn | Mão Mộc | Ứng | ○ | Quan Quỷ · Sửu Thổ |
Trong điều kiện tiêu chuẩn (các hào không bị không phá mộ tuyệt, đều vượng), có ba hào động bao gồm Huynh, Quan và Tử, tình huống này ta xét thấy Huynh hóa khắc, vậy ta bỏ Huynh ra trong chuỗi xét, còn lại Quan và Tử, Tử khắc Quan, nên kết quả cuối cùng còn lại Tử Mão Mộc. Khi đó ta muốn xem gì, cứ lấy Tử quy chiếu với Dụng và Thế như quẻ đơn động mà ra kết quả.
Nhưng nếu nhóm bị khắc mạnh hơn nhóm khắc tính về vượng suy (Hưu so với Vượng, Vượng so với Quá vượng), Nhóm bị khắc sẽ là chủ đạo tương quan với Dụng và Thế, khi đó thời điểm ứng kỳ của sự tác động là lúc xung Hào khắc. Ví dụ với trường Minh Di hóa Tỉnh trên, giả thử Tử hưu Quan vượng, thì lúc Dậu là lúc Quan sẽ có sự tương tác với Dụng và Thế, trước đó thì chưa. Đây là trường hợp Kỵ thần yếu hơn Dụng trong việc xem quẻ, nếu hai hào khắc nhau, mà hào khắc yếu hơn về trạng thái so với hào bị khắc, thì lấy hào mạnh mà quy chiếu, thời điểm ứng kỳ của sự việc tại lúc xung hào yếu hơn. Ví dụ: Ngày Dậu tháng Hợi, Ngọ Hỏa động khắc Dụng tại Kim, thì việc vẫn thành, vì Hỏa khi đó suy mà Kim vượng, thời điểm ứng kỳ của việc thành vào ngày/ tháng/ năm/ giờ Tý, vì Tý xung mất Ngọ.
Tình huống này, nguyên lý là gom thành hai nhóm hào với hai hành, hai hành đó tương tác với nhau thế nào, sau đấy lấy kết quả đó mà quy chiếu với Dụng và Thế mà ra kết quả cuối cùng. Các tình huống gom hào được bao gồm: Các hào bị tiêu giảm do hóa khắc, hoặc hào suy bị Nhật Nguyệt khắc, hay hào Hưu nhập Mộ…. Ví dụ sau:
Ngày Bính Ngọ, tháng Tuất, một bạn học viên hỏi về quẻ kinh doanh công ty đến cuối năm, quẻ Ích hoá Hằng:
| Huynh Đệ | Mão Mộc | Ứng | ○ | Thê Tài · Tuất Thổ | ||
| Tử Tôn | Tỵ Hỏa | ○ | Quan Quỷ · Thân Kim | |||
| Thê Tài | Mùi Thổ | × | Tử Tôn · Ngọ Hỏa | |||
| Thê Tài | Thìn Thổ | Thế | × | Quan Quỷ · Dậu Kim | ||
| Huynh Đệ | Dần Mộc | × | Phụ Mẫu · Hợi Thủy | |||
| Phụ Mẫu | Tý Thủy | ○ | Thê Tài · Sửu Thổ |
Huynh Nhị động tại 2 và 6 khắc Tài, nội quái hợp thành Phụ cục sinh Huynh, Tử tuy có thể nối nhưng lại bị hợp, nếu xem thông thường xem như vứt, nhưng thế có phải không?
Huynh tuần không, động nên không xét tuần không, nhưng giống Phá sợ tuyệt thì Không sợ mộ, không mộ thì xem như mất hào, ở đây cả hai Huynh đều không, mộ tại hào 4 không bị xung phá, nên xét là Không nhập Mộ, nên hai Huynh tuy động nhưng thành vô dụng. Phụ động bị Nhật xung, lại Nguyệt khắc và hoá khắc nên Phụ này xem như mất, ngoài ra Phụ này không thể cùng Tài mà chờ Thân để hợp thành cục được vì tối đa mỗi cục chỉ được có 1 vấn đề tồn tại bao gồm Khuyết chi, Không, Phá, hào suy kiệt. Tại đây Phụ suy hoá khắc thành quá kiệt, cục khuyết chi Thân, nên cục bất thành. Vì sao không liệt kê cả Tài Phá? Vì Tài tuy phá nhưng hoá hợp, Phá gặp hợp thành bất Phá, nhưng về mặt vi mô vẫn xét Nguyệt xung trong việc bổ sung chuỗi thông tin luận. Phụ xem như mất, vậy tuy lục động nhưng gom lại chỉ còn gồm hai nhóm Tử và Tài. Ở đây Tử hoá hợp, nên bất động bất sinh Thế, Tài nhị động vượng, nên báo việc công ty có nhiều nguồn thu, các nguồn thu đều có lời nhưng về tích luỹ lại không, nên khả năng là công nợ khó đòi hoặc tiền gối đầu sản xuất..... nhưng đừng vội, sang tháng 1 âm xung mất Thân hợp Tỵ, Tử sinh Tài, lúc đó xem như có dư.
Chia hai giai đoạn
Đôi khi quẻ đa động được chia thành hai giai đoạn đối với sự kiện mang tính liên tục: Trước thời điểm, và tại thời điểm về sau. Quẻ chẻ này là khi hào đa động, nhưng một, hoặc nhiều hào bị tạm thời tiêu biến bởi Tuần không, Nguyệt Phá, hay hóa Không, hóa Phá, hay vượng mà Mộ. Với các trường hợp như vậy, sẽ chia thành hai giai đoạn, giai đoạn trước Thực và từ Thực trở đi. Điều này dẫn đến việc có thể trước thời điểm có thể nhóm hào mà lúc thực sẽ không nhóm nữa hoặc ngược lại. Ví dụ cùng quẻ trên, nếu Tuất Thổ tức hào biến của Huynh đệ Tuần không hay Nguyệt phá, thì trước thực Không, thực Phá, hào Huynh vẫn tác động vào quẻ như một hào động thông thường, khi đó sẽ tính quẻ có 3 hào động, cách xem nhiều hơn 2 nhóm hào động sẽ trình bày sau. Tựu chung, khi có hào trong quẻ Không, Phá, hóa Không hóa Phá, hay vượng nhập mộ, hay động hợp thì đơn giản nhất ta chia thành 2 quẻ với mỗi quẻ ứng với từng giai đoạn.
Với quẻ mang tính sự kiện cố định thì chỉ xét bản chất khi thực hào, và ứng kỳ của sự kiện cũng tại thời điểm thực hào. Cùng với Ví dụ trên, Tuất tuần không, thời điểm ứng kỳ của sự kiện sẽ tại Tuất, khi đó lấy chuỗi Tử – Quan mà xét rồi so với Dụng và Thế. Điều này đẩy tới một tình huống khác, đó là chuỗi Tử – Quan, nếu Quan vượng Tử suy thì sao, khi đó sẽ xảy ra 2 giai đoạn của một sự kiện, mà sự kiện chính sẽ lấy thời điểm xung Tử mà tính. Ví dụ: Cha đi xa chưa về, thì xung Tử tức xung mất Cừu thần Dụng là lúc về mà thời điểm xung Tử mà có tin tức lúc thời điểm xung thực tuần không.
Các trường hợp không thành nhóm
Ví dụ:
| Phụ Mẫu | Tuất Thổ | Thế | ○ | Huynh Đệ · Dậu Kim | ||
| Huynh Đệ | Thân Kim | ○ | Tử Tôn · Hợi Thủy | |||
| Quan Quỷ | Ngọ Hỏa | ○ | Phụ Mẫu · Sửu Thổ | |||
| Phụ Mẫu | Thìn Thổ | Ứng | ○ | Thê Tài · Mão Mộc | ||
| Thê Tài | Dần Mộc | ○ | Quan Quỷ · Tỵ Hỏa | |||
| Tử Tôn | Tý Thủy | ○ | Phụ Mẫu · Mùi Thổ |
Giả như quẻ Càn động cả 6 hào, không tính hào biến, giả sử các hào đều dùng được và không thành cục, thì xem như sau:
- Tuất sinh Thân lấy Thân làm kết quả lần 1
- Ngọ khắc Thân lấy Ngọ làm kết quả lần 2
- Ngọ sinh Thìn lấy Thìn làm kết quả lần 3
- Dần khắc Thìn lấy Dần làm kết quả lần 4
- Tý sinh Dần lấy Dần làm kết quả cuối cùng
Khi đó, muốn xem gì, thì lấy kết quả cuối cùng tức chi Dần quy chiếu với Dụng thần vào hào Thế tương tự với quẻ 1 hào động mà xem. Quẻ này, giả sử lấy Thế làm Dụng, thì sẽ tính Dần Mộc tác động thế nào với Thế Tuất Thổ, Nếu lấy Thê tài làm Dụng thì quy chiếu Dần Mộc với Thê tài.
Nguyên lý của cách xem đa động tiêu chuẩn là lấy từng cặp động từ trên xuống mà xét, sau lấy kết quả cuối cùng mà quy chiếu với Dụng và Thế. Tất nhiên, trong thực tế, sẽ thứ tự ưu tiên như sau:
Tương quan Động – Biến của từng hào động
Tương quan Động – Biến của từng hào động, nếu một hào động hóa khắc, xem như vứt đi, không cần tính, nếu Tương quan Động – Biến bất đối xứng, với thế yếu thuộc về hào Biến, Ví dụ Động vượng Biến suy: Ngày Thìn, tháng Thìn, Thân hóa Ngọ, khi đó chờ ứng kỳ Ngọ mà hào mất đi, vậy ứng kỳ của quẻ với thời điểm tại Ngọ, nếu với sự kiện liên tục là Tại Ngọ xảy ra sự kiện của hào Thân hóa Ngọ: Ví dụ: Ngày Hợi tháng Thìn:
| Quan Quỷ | Dần Mộc | Thế | ||||
| Thê Tài | Tý Thủy | × | Phụ Mẫu · Tỵ Hỏa | |||
| Huynh Đệ | Tuất Thổ | |||||
| Tử Tôn | Thân Kim | Ứng | ○ | Phụ Mẫu · Ngọ Hỏa | ||
| Phụ Mẫu | Ngọ Hỏa | × | Huynh Đệ · Thìn Thổ | |||
| Huynh Đệ | Thìn Thổ |
Tử Vượng Phụ Hưu, nếu quẻ sự kiện cố định như khi nào có tiền, lên chức….. thì bỏ hào Tử đi mà xem tương quan Tài – Phụ, rồi lấy kết quả chuỗi xét với Dụng – Thế, thời điểm ứng kỳ tại Ngọ vì Hỏa suy Kim vượng. Với các sự kiện liên tục, sẽ xét hai giai đoạn với giai đoạn 1 ứng với trường hợp Kim có tồn tại, ở đây sẽ tính chuỗi là Tý Thủy – Thân Kim, còn lại Tý Thủy, Tý Thủy – Ngọ Hỏa, còn lại Tý Thủy, vậy xét gì sẽ lấy Tý Thủy mà so với Dụng, Thế. Giai đoạn 2 sẽ từ Ngọ, khi đó chỉ có Tài và Phụ còn tồn tại, lúc này chỉ cần lấy kết quả cặp Tài – Phụ mà so với Dụng thế sẽ ra kết quả của cặp thứ 2.
Nếu cùng ra kết quả cuối, sao lại ra đa động phức tạp thế? Lí do bởi rằng, quẻ động càng nhiều, càng nhiều thông tin mà biết để đoán định yếu tố tác động trong một sự kiện mà có cái nhìn tổng quan mà có cách cư xử phù hợp. Ví dụ: Nếu về Tài, Thì Nguyên cùng Tiết động, là báo người giúp mình hay chung vốn làm ăn sẽ là người giúp giảm bớt các chi phí về mặt ý kiến, vậy các vấn đề về quản trị sẽ lấy ý kiến người làm chung làm trọng…
Hợp cục
Hợp cục sẽ ưu tiên lấy Hành cục làm yếu tố tác động sau cùng trong chuỗi tác động, trong quẻ Càn trên, giả sử Dần Ngọ Tuất thành cục, các hào còn lại không thành cục, sẽ bỏ qua 3 hào Dần – Ngọ – Tuất, còn Thân – Thìn còn Thân, Thân – Tý còn Tý. Lấy Kết quả chuỗi lẻ tức Tý tác động với hành Cục là Ngọ Hỏa, còn lại Tý, lấy Tý quy chiếu với Thế – Dụng mà ra kết quả. CỤC, báo việc chung nhóm, có thể làm một nhóm người hoặc chuỗi liên kết, ví dụ đa công ty liên kết…. Theo đó mà luận.
Bình chú một quẻ đa động trong Tăng san
Một ví dụ về Đa động, trong Tăng san Sai lầm Bình chú trang 159 có quẻ Đồng Nhân biến Giải ngày Kỷ Mão tháng Tuất:
| Tử Tôn | Tuất Thổ | Ứng | ○ | Tử Tôn · Tuất Thổ | ||
| Thê Tài | Thân Kim | ○ | Thê Tài · Thân Kim | |||
| Huynh Đệ | Ngọ Hỏa | |||||
| Quan Quỷ | Hợi Thủy | Thế | ○ | Huynh Đệ · Ngọ Hỏa | ||
| Tử Tôn | Sửu Thổ | × | Tử Tôn · Thìn Thổ | |||
| Phụ Mẫu | Mão Mộc | ○ | Phụ Mẫu · Dần Mộc |
“Sách viết rằng: Hào Phụ Mẫu Mão Mộc gặp Nhật kiến, hào thượng Tuất Thổ động mà ra sinh ra Thân Kim, Kim sinh Hợi Thủy. Nếu Sửu Thổ không hóa Tiết thần để chặn Thủy thì hào Phụ Mẫu sẽ được Thủy tiếp tục tương sinh, bệnh tuy hiểm nghèo nhưng không đáng ngại. Nay hào Phụ Mẫu không được Thủy nuôi dưỡng, lại hóa ra Thoái thần, tinh huyết bại hoại. Đến tháng Sửu Thổ vượng sẽ lấy nguồn nước, cần đề phòng Nguy hiểm. Sau người mẹ quả nhiên mất vào tháng Sửu”
Về phần luận giải này, mình chừa trống, vì giải thích ra quá dài phạm vi sách lại không đủ, hôm nay bình chú tại đây:
Có lẽ có sự nhầm lẫn trong khoảng chênh lệch giữa tháng và tiết khí mà lại thành ứng kỳ Sửu, người mẹ chính ra, phải ứng kỳ vào Dần hoặc Thìn, mà theo nguyên tắc thứ tự Ứng kỳ từng nói, trong vòng địa chi, chi nào đến trước lấy trước, tại đây là tháng Tuất, giữa Dần và Thìn, Tuất gần Dần hơn, nên Ứng kỳ sẽ tại Dần.
Biết thế, bởi rằng quẻ này là quẻ sự kiện cố định, nghĩa là người mẹ hoặc sống, hoặc chết, sống dậy lúc nào mà chết đi lúc nào, nên quẻ sẽ được xét từ trên mà xuống, không bỏ hào nào, mà Ứng kỳ sẽ tại hào nào đấy nếu có lỗi.
- Cặp Tử Tuất và Tài Thân tác động lẫn nhau đầu tiên, ngày Kỷ Mão, Thân Dậu Tuần không, nhưng như trên, vẫn xét cả, và lấy một điểm Ứng kỳ tại Thân. Cặp Tuất – Thân, kết quả là Thân
- Cặp Thân – Hợi, kết quả là Hợi
- Cặp Hợi – Sửu, kết quả là Sửu, tại đây ta thấy: Tháng Tuất, Thìn Nguyệt Phá, nên điểm Ứng kỳ thứ 2 tại Thìn Thực phá của hào biến Sửu Thổ hóa Thìn Thổ, đây cũng là lý do vì sao hào Thân Kim tại hào 5 không tính Mộ tại hào Sửu Thổ, vì như bài trước, nếu hào biến Không, Phá, sẽ mãi mãi không tính là Mộ dù có được thực. Vậy điểm Ứng kỳ thứ 2 là Thìn Thổ
- Cặp Sửu – Mão, Lấy mão, đúng ra, đến đấy thì không chết được, nhưng tiếc thay, Mão hóa thoái, vì Thoái, ngày dài tháng rộng sẽ thoái, nên không chết ngay trong tháng là vậy. Ngoài ra hào Mão bị Nguyệt hợp, thời điểm Ứng kỳ của Nguyệt hợp là xung Nguyệt, nên điểm Ứng kỳ thứ 3 là Thìn, vô tình trùng với điểm số 2.
Nên cuối cùng, chết vào tháng Dần, không phải Sửu, chắc chắn thế.
Điểm tiêu biến và điểm xuất hiện mới
Tại đây, có lưu ý về điểm các hào bị tiêu biến cấp kỳ gồm:
- Hưu, Không, Phá, Suy, Vô Căn mà Mộ
- Phá mà Tuyệt
- Hóa Khắc mà Kỵ vượng
Điểm tiêu biến theo thời gian gồm:
- Hóa Thoái
Điểm xuất hiện mới gồm:
- Hưu hỏi việc xa
- Hóa tiến
- Hóa trường sinh
- Vượng Mộ
- Vượng Phá
Xem thêm
- Quẻ đơn động, Quẻ tĩnh
- Tam hợp cục, Hợp xung của hào
- Tuần không, Mộ, Ứng kỳ
- Nguyên tắc xem quẻ — thứ tự đối với quẻ Đa Động