Bốc Dịch Vô Tranh

Vượng suy và tương quan

Tam hợp cục

Tác giả · Cập nhật

Tam hợp cục là gì? Tam hợp cục chỉ trường hợp các Chi xuất hiện với điều kiện riêng biệt thành một nhóm: Hợi Mão Mùi Mộc cục, Dần Ngọ Tuất Hỏa cục, Tị Dậu Sửu Kim cục, Thân Tý…

Về mặt khái niệm, Tam hợp cục chỉ trường hợp các Chi xuất hiện với điều kiện riêng biệt thành một nhóm bao gồm các nhóm:

Thủy cục

Thủy cục SửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợi

Thân – Tý – Thìn

Mộc cục

Mộc cục SửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợi

Hợi – Mão – Mùi

Hỏa cục

Hỏa cục SửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợi

Dần – Ngọ – Tuất

Kim cục

Kim cục SửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợi

Tỵ – Dậu – Sửu

Mỗi cục là một tam giác đều trên vòng mười hai chi: sinh – vượng – mộ của hành đó.

Riêng Thổ không tính Cục.

Điều kiện hợp Cục

Về Cục, khi đủ các Chi xuất hiện trong điều kiện riêng biệt, sẽ tính các Chi trong Cục theo hành của Cục. Ví dụ: Trong quẻ có đủ các hào Dần, Ngọ, Tuất trong điều kiện riêng biệt thì sẽ tính các hào đấy hợp thành Hỏa cục, khi đó không tính riêng lẻ các hào Dần hành Mộc, Ngọ hành Hỏa, Tuất hành Thổ mà tất cả sẽ hợp chung thành Hỏa Cục, khi đó sẽ chỉ tính hành Hỏa động, chứ không tính riêng lẻ.

Các trường hợp riêng biệt của hợp Cục bao gồm:

  • Ba hào động hợp thành Cục
  • Hai hào động cùng Nhật hoặc Nguyệt hợp thành Cục
  • Hào động hợp cùng Nhật Nguyệt thành Cục
  • Hào động cùng hào biến hợp thành Cục
  • Hào động cùng hào biến cùng Nhật hoặc Nguyệt hợp thành Cục

Cục thực ra là khái niệm khó mà nắm hết toàn bộ ngay lần đầu, cũng là bẫy về lòng tham tri thức, vậy điều tiên quyết hình thành nên Cục đó là:

  • Hào Động
  • Có ít nhất hai chi (trường hợp 2 chi xuất hiện, nếu Nhật và Nguyệt là một trong hai chi sẽ không tính)

Đây gọi là trường hợp hợp Cục đầy đủ. Lưu ý rằng, các trường hợp không động, kể cả bao gồm hào Thế, đều không được tính trong Cục. Điều này dẫn tới không có cái gì gọi là “Hợp Cục hư ảo” với hào tĩnh cả. Ngoài ra, nếu trong quẻ thừa chi (trừ trường hợp của hào 1 – 3 cùng động, hoặc 4 – 6 cùng động trong hầu hết các quẻ trừ quẻ có cung Càn và Khảm ở Thượng hoặc Hạ quái, hoặc Nhật Nguyệt làm Chi), sẽ không tính thành cục mà tính như các hào thông thường động. Trường hợp này, nếu tất cả các chi trong Cục không bị Không, Phá, Ứng kỳ nếu Dụng thần nằm trong Cục, sẽ tại thời điểm xung chi Đế vượng của Cục, ví dụ: Ngày Đinh Mão, tháng Tý:

Trạch Sơn Hàm hóa Trạch Lôi Tùy Cung Đoài · Kim
Phụ Mẫu Mùi Thổ Ứng
Huynh Đệ Dậu Kim
Tử Tôn Hợi Thủy
Huynh Đệ Thân Kim Thế Phụ Mẫu · Thìn Thổ
Quan Quỷ Ngọ Hỏa
Phụ Mẫu Thìn Thổ × Tử Tôn · Tý Thủy

Hào Phụ Mẫu Thìn Thổ, cùng Huynh đệ Thân Kim và Tử Tôn Tý Thủy đủ 3 chi Thân Tý Thìn mà hợp thành Thủy Cục.

Giả sử Phụ Mẫu làm Dụng thần, tại quẻ này thời điểm Ứng kỳ của Phụ Mẫu sẽ tại Ngọ, bởi vì Ngọ xung mất chi Đế vượng của Cục, tức Tý Thủy.

Cục có hào Không, Phá

Với các trường hợp trong Cục có hào bị Không, Phá, thời điểm Ứng kỳ của Cục hoặc các hào trong cục sẽ là thời điểm Ứng kỳ của hào bị Không, Phá đó, ví dụ: Ngày Ất Mão, tháng Tý, cũng quẻ Trạch Sơn Hàm hóa Trạch Lôi Tùy trên: Trường hợp này như trên, chỉ khác hào Tử Tôn Tuần Không, nên Ứng kỳ của Thủy cục hoặc bất kỳ Chi nào khác trong cục làm Dụng thần đều tại Tý Thủy hoặc Ngọ Hỏa tức thực, xung hào Tý Thủy Tuần không.

Với Cục, khi xuất hiện đủ các điều kiện để hình thành nên cục, thì các hào cấu thành Cục sẽ không được tính riêng lẻ, mà được bỏ qua, chỉ tính hành của Cục tác động đến các hào khác trong quẻ với chức năng về mặt bản chất tương tự một hào Động vượng mà thôi. Ví dụ với quẻ Hàm trên, ta không tính hào Phụ Mẫu Thìn Thổ tác động đến các hào khác ra sao, mà chỉ duy nhất tính đây là Thủy Cục, Thủy này mặc định Vượng và sẽ tác động đến các hào khác trong quẻ.

Cục khuyết

Các trường hợp Cục khuyết bao gồm:

  • Hai hào động nằm trong một cục, mà cả hai hào này đều không hóa khắc, hóa Mộ (trừ trường hợp Tý động hóa Thìn) hoặc Tuần Không hay Nguyệt Phá.
  • Hào động và hào biến nằm trong một cục mà cả hai hào đều không bị Không hoặc Phá

Với trường hợp Cục khuyết, ứng kỳ sẽ tại:

  • Với trường hợp trong quẻ không có chi Khuyết tĩnh, sẽ ứng kỳ vào chi Thiếu. Ví dụ: Dần động, Ngọ động, mà trong quẻ không có hào Tuất tĩnh, thời điểm Ứng kỳ sẽ vào thời điểm Tuất (Tùy quy mô sự việc mà Tuất này có thể là Giờ, Ngày, Tháng hoặc Năm)
  • Với trường hợp trong quẻ có chi Khuyết tĩnh, sẽ ứng kỳ vào thời điểm xung hào Tĩnh đó hoặc thời điểm trực hào Tĩnh đó. Ví dụ cùng trường hợp trên, mà Tuất xuất hiện trong quẻ và tĩnh, thì thời điểm Ứng kỳ sẽ vào Thìn hoặc Tuất.

Về mặt thông tin

Về mặt thông tin, Hợp Cục báo hiệu một nhóm, một tổ chức, một đoàn thể, phổ quát ra nghĩa là nhiều mối liên kết với nhau.

  • Nếu Cục sinh Thế, là có một nhóm người giúp bản thân mình
  • Tương tự, Cục sinh Dụng là có một nhóm người giúp đỡ sự việc bản thân quan tâm đến
  • Cục khắc Thế báo việc đông người hợp thành một khối muốn hại mình, điều này trái ngược với việc Kỵ thần động hóa sinh. Cục báo nhiều người, còn hào hóa sinh chỉ báo hai người mà thôi.
  • Tương tự với Cục khắc Dụng, đông người muốn hại mình
  • Tương tự với các trường hợp Tiết thần và Cừu thần
  • Nếu hào Thế nằm trong Cục, là bản thân nằm trong một nhóm người nào đó có tương quan với sự kiện đang quan tâm đến, tính chất ra sao vẫn phụ thuộc vào tương quan hào Thế với các hào trong Cục, ví dụ: Hào Thế sinh cho Cục là bản thân mệt mỏi, ra sức với Tổ chức chung, từ đó thông biến các trường hợp khác. Nếu Cục này khắc Dụng ắt mình bị cuốn theo mà xa rời, hỏng mất việc đang hướng đến.

Ngoài ra, nếu hào biến của hào Thế là Kỵ thần, và một hào khác cũng khắc hào Thế, ắt việc nguy đến mạng, ví dụ:

Địa Lôi Phục hóa Địa Sơn Khiêm Cung Khôn · Thổ
Tử Tôn Dậu Kim
Thê Tài Hợi Thủy
Huynh Đệ Sửu Thổ Ứng
Huynh Đệ Thìn Thổ × Tử Tôn · Thân Kim
Quan Quỷ Dần Mộc
Thê Tài Tý Thủy Thế Huynh Đệ · Thìn Thổ

Tương tự, nếu hào biến của hào Dụng và một hào khác cũng khắc hào Thế, ắt việc cũng thế mà hỏng, ví dụ cũng quẻ Địa Lôi Phục hóa Địa Sơn Khiêm trên.

Trường hợp này cũng tương tự với hào Dụng hoặc Thế hóa Mộ và Mộ tại hào động, ắt sẽ hỏng, Thế là hỏng mình mà Dụng là hỏng người.

  • Trong trường hợp có hào trong cục Tuần không, nghĩa là việc tác động chưa xảy ra
  • Nếu trong Cục có hào Nguyệt Phá, ắt lòng người chưa nhìn về một hướng, Nguyên nhân sẽ từ hào bị Nguyệt Phá đó mà ra, nhưng đến thời điểm Trực Hợp hào Phá này, mọi thứ sẽ ổn cả

Khi Dụng thần hay Thế nằm trong Cục

Trong quẻ có Tam Hợp Cục, thì cách xem có khác với quẻ thông thường nếu Dụng thần hay Thế nằm trong Cục. Khi đó, ta thêm một bước nữa là xét kết quả cuối cùng của Chuỗi hào động với chính Dụng thần và hào Thế, chứ không bỏ qua Dụng thần và hào Thế. Khi đó hào Dụng và Thế vẫn chịu sự tác động bởi kết quả này và hào biến. Ví dụ: quẻ Thiên Hỏa Đồng Nhân động hào 1 và hào 3, xem về Phụ Mẫu. Hào 1 Phụ Mẫu Mão Mộc hóa Mùi Thổ, cùng hào 3 Hợi Thủy động hợp thành Mộc cục. Khi đó ta tính Phụ Mẫu nhập Mộ tại hào biến của hào 1 (Mộc mộ tại Mùi), chứ không tính Mộc cục nhập Mộ. Điều này để tính rằng Mộc cục vẫn tác động đến các hào khác như hào động thông thường mà không cần phải đến thời điểm xung Mộ; tuy nhiên Dụng thần là Phụ Mẫu đã nhập Mộ, nên Ứng kỳ của Phụ Mẫu là thời điểm xung Mộ, tức Sửu.

Thiên Hỏa Đồng Nhân hóa Thiên Địa Bĩ Cung Ly · Hỏa
Tử Tôn Tuất Thổ Ứng
Thê Tài Thân Kim
Huynh Đệ Ngọ Hỏa
Quan Quỷ Hợi Thủy Thế Phụ Mẫu · Mão Mộc
Tử Tôn Sửu Thổ
Phụ Mẫu Mão Mộc Tử Tôn · Mùi Thổ

Và với trường hợp trong quẻ có Cục bị Khuyết chi, hay một chi trong Cục bị Tuần Không hoặc Nguyệt Phá thì sao? Khi đó, trước thời điểm Ứng kỳ đặc biệt của Cục, các hào còn lại trong cục cũng xem như mất đi. Nếu Dụng thần hay Thế nằm trong Cục trường hợp này, xem như tạm mất đi, Ứng kỳ sẽ đi chung đến thời điểm Cục xuất hiện đầy đủ. Nếu Kỵ thần trì Thế nằm trong Cục Khuyết này, ta sẽ xét nếu Dụng thần Vượng thì sự việc vẫn thành, vì Kỵ thần trì Thế lúc này đã tạm mất đi, tương tự trường hợp Kỵ thần Tuần không hoặc Nhập Mộ.

Đặc điểm của Cục

Để hiểu rõ hơn về Tam Hợp Cục: Khi quẻ xuất hiện tam hợp Cục, mà gọi tắt là Cục, các chi trong Cục sẽ đồng thời tính chung thành một nhóm với đại diện chính là hành của Cục, ta gọi tên Cục theo Ngũ hành và Lục thân của Cục, ví dụ: Hỏa Cục, hoặc Tử Cục, tức Cục hợp thành Tử Tôn. Khi đó, cục này tác động đến các hào khác trong quẻ với bản chất của hành đại diện này, chứ không tính đến các hào khác trong quẻ. Ngoài ra, Cục này ta mặc định là Vượng bởi trong Cục luôn có trường sinh. Ta sẽ không chia Cục mạnh, hay Cục yếu, điều đó hoàn toàn vô nghĩa, Vượng là Vượng, không có cái nào là Vượng mạnh hay Vượng yếu cả. Ta chỉ duy nhất xét đến các hào riêng rẽ trong Cục khi các hào đấy là Dụng thần hoặc hào Thế mà thôi, còn lại ta không xét đến. Ngoài ra, không có Thổ Cục.

Tác động của Cục mang tính chất của hành tác động chứ không mang tính chất của Địa chi tác động, điều đó làm nảy sinh vấn đề đặc điểm của Cục:

  • Cục không chịu tác động xung của Nhật, hào Động, hay hào biến khác
  • Cục không chịu tác động của Hợp
  • Hai Cục chỉ khắc nhau, không xung nhau.

Hợp Cục khuyết chi và Ứng kỳ của Cục

Trong các trường hợp hợp Cục khuyết chi, tức chỉ hai hào thuộc Cục động, hay Hào Động và hào Biến nằm trong Cục, ta cần cực kỳ lưu ý như sau:

Trong trường hợp Hợp Cục khuyết Chi, nếu trong hai chi có 1 chi hỏng, thì ta sẽ không tính Cục nữa, mà bỏ qua Chi hỏng, giữ lại Chi còn lại.

Về Ứng kỳ của Cục, cái này quan trọng nên lưu ý, với tình huống ta cần Ứng kỳ của một Chi trong Cục, mà chi đó không Mộ, hay hóa khắc, tức không tồn tại điểm đặc biệt nào, ta sẽ lấy thời điểm Ứng kỳ tại Chi xung chi Đế Vượng. Còn với tất cả các trường hợp khác, như trong Cục có hào Tuần không, dù hào đó là hào biến của một hào Động khác, thì thời điểm Ứng kỳ của hào cũng nằm ở thời điểm Thực hào có vấn đề đấy, ví dụ:

Hỏa Địa Tấn hóa Hỏa Thủy Vị Tế Cung Càn · Kim
Quan Quỷ Tỵ Hỏa
Phụ Mẫu Mùi Thổ
Huynh Đệ Dậu Kim Thế
Thê Tài Mão Mộc
Quan Quỷ Tỵ Hỏa × Phụ Mẫu · Thìn Thổ
Phụ Mẫu Mùi Thổ Ứng

Ngày Ất Mão, tháng Mùi, hỏi về tiền, quẻ này ta có hào Thế Ám động, hội với hào Tỵ Hỏa động mà thành Tam Hợp cục Khuyết chi Sửu, nên về nguyên tắc ta sẽ chờ đợi Sửu xuất hiện mà thành Tam Hợp, trong trường hợp này các hào trong Cục tạm thời sẽ không tính là động, khi đó Ứng kỳ của các hào động trong Cục đều được tính chung tại điểm điền thực này, tức Sửu. Khi đó, với quẻ này, người hỏi quan tâm đến tiền, tức lấy Tài làm Dụng thần, ta có Tài xung Thế tức có tiền bất ngờ, nhưng hiện tại Thế nằm trong Cục Khuyết nên đành phải chờ chi thiếu là Sửu thì mới thực Cục, cũng là thực Thế mà có tiền, ngoài ra, ta có nguyên tắc của hợp Cục là tất cả sẽ tính chung một hành và tính tương tự hào Động Vượng, sau đó lấy kết quả chuỗi tương tác của cụm quy chiếu với hào Thế và hào Dụng thần, ngoài ra còn có sự tác động của hào biến đối với hào động hóa ra nó trong trường hợp hào Động đó là Thế hoặc Dụng.

Vậy trong trường hợp này ta có tính Tỵ Hỏa khắc với hào Thế Dậu Kim không? Là không khắc được, vì để khắc hào trong Cục, chỉ có hào biến chứ không gồm hào động khác trong Cục.

Và Kim Cục này là Huynh Cục, có khắc Tài được hay không? Câu trả lời là không, vì tình huống này tương tự trường hợp Kỵ thần trì Thế động, sẽ không tính là khắc Dụng, trường hợp này xem như trường hợp đặc biệt trong Dịch.

Đối với trường hợp Tam Hợp khuyết Chi, trước khi xuất hiện chi này tại Nhật Nguyệt hay xung Chi có sẵn trong quẻ, thì các hào trong Tam Hợp xem như đứng yên, khi đó các trạng thái tương tác của hào Động khác đối với những hào Động trong Cục cũng không xảy ra.

Với ví dụ trên, giả sử như trong quẻ này có hào Sửu, khi đó, việc xuất hiện đủ chi sẽ không chỉ bao gồm Nhật, Nguyệt, mà còn bao gồm cả thời điểm xung chi còn thiếu trong Cục, mà cụ thể ở đây là Mùi. Vậy câu hỏi đặt ra, là chỉ xung thôi hay trực cũng tính? Xung hay Trực, đều dùng được, đâu gần hơn thì lấy.

Chia giai đoạn theo mốc Cục

Vậy trường hợp đối với những sự kiện liên tục hoặc những sự kiện xảy ra một lần trong tương lai có xác định thời điểm, thì ta chia khoảng ra sao? Khi đó việc đầu tiên ta tìm mốc Ứng kỳ của chi còn thiếu, và phân thành 4 trường hợp sau:

Trường hợp 1: Thế và Dụng nằm ngoài Cục

Khi đó, thời điểm xuất hiện Cục làm Mốc, trước thời điểm này ta xét quẻ trường hợp không có Cục và các hào khác trong Cục, nhớ nguyên tắc, nếu Cục khuyết chi thì trước thời điểm thực Chi, ta sẽ không tính các hào đó Động, các hào Động sẽ được cùng tính theo ngũ hành Cục khi Chi còn khuyết xuất hiện. Khi đó ta chia thành hai giai đoạn, giai đoạn 1: Không có Cục. Giai đoạn 2: Có Cục. Kết quả sự việc khi đó cũng chia thành 2 giai đoạn (Sự kiện liên tục) hoặc Kết quả phụ thuộc vào mốc thời gian xảy ra sự kiện nằm ở giai đoạn nào, thì kết quả đi theo giai đoạn đó.

Ví dụ:

Sơn Thiên Đại Súc hóa Sơn Thủy Mông Cung Cấn · Thổ
Quan Quỷ Dần Mộc
Thê Tài Tý Thủy Ứng
Huynh Đệ Tuất Thổ
Huynh Đệ Thìn Thổ Phụ Mẫu · Ngọ Hỏa
Quan Quỷ Dần Mộc Thế
Thê Tài Tý Thủy Quan Quỷ · Dần Mộc

Chiếu theo công thức Lý thuyết số 8, nếu hào Tý Thủy Hưu trở xuống thì tính mất đi hào Động này, khi đó tình huống này không được xem như tình huống Cục khuyết Chi, mà chỉ tính quẻ có hào Thìn Thổ động thông thường mà thôi. Trong các tình huống sau đây chúng ta cũng sẽ xem là như vậy:

  • Hào Hưu mà Mộ, Tuyệt
  • Hào hóa khắc
  • Hào Tuần không, Nguyệt Phá, hóa Tuần không, Nguyệt Phá.
  • Hào Hưu hóa Khắc hóa Hợp, như Tý hóa Sửu

Trường hợp này được tính trong tình huống chỉ xuất hiện hai Chi trong nhóm hình thành Cục, còn với trường hợp hội đủ 3 Chi trong quẻ ta không tính vậy. Chúng ta hiểu như sau, đối với một khuyết, thì hai yếu tố còn lại phải hoàn hảo, nếu một trong hai yếu tố hỏng, thì không thành Cục, và giữ lại phần còn lại. Tình huống Hào Động hóa hào Biến cũng tương tự vậy. Nếu hào Hưu bị Tiết, hay hào Động Không, Phá, hoặc hào Biến Không, Phá thì cũng không cấu thành Cục mà chỉ tính như một quẻ có hào Động hóa hào Biến thông thường như tất cả trường hợp khác.

Ta có Hình có sự phối với Phi Thần, vậy với Tam Hợp, điều này có xảy ra không? Câu trả lời là không, vì dù sao Phục thần vẫn chỉ tính là hào Tĩnh mà thôi, mà hào Tĩnh sẽ không tham gia vào sự tương tác cấu thành Cục.

Trở lại ví dụ trên, giả sử Tý và Thìn vượng, nghĩa là Thủy Cục chỉ thiếu Chi Thân, ta lấy Thân làm Mốc, vậy với tình huống này, ta xét hai giai đoạn sau với Thân làm Mốc như sau:

  • Với giai đoạn trước khi Thân xuất hiện, giả sử xem về Công Danh, Quan làm Dụng thần, khi đó Quan này dù Vượng chăng nữa cũng không dùng được. Vì sao? Bởi Nguyên thần của Quan động nhưng vì thiếu Chi nên thành bất động, với quẻ, nếu Nguyên thần động mà hỏng (Suy, hóa Khắc, nhập Mộ, Hợp) hay Nguyên thần Động mà tạm không tính (Tuần Không, Nguyệt Phá, hóa Không, hóa Phá, thiếu Chi trong Cục), thì Dụng thần này xem như Hỏng. Với tình huống này thì Nguyên thần thiếu Chi để thành Nguyên Cục sinh Dụng nên giai đoạn này Dụng thần hỏng
  • Giai đoạn hai: Từ Thân trở đi, tại giai đoạn này ta có Nguyên Cục sinh Thế, từ đây ta xem như tương tự Nguyên thần động đối với tình huống quẻ thông thường với mặc định Nguyên thần này Vượng

Vậy sự kiện này sẽ được chia thành hai giai đoạn, với Mốc quy chiếu là Thân, từ đó ta chia ra xem như hai giai đoạn của Mộ. Với trường hợp sự kiện xảy ra một lần không xác định thời gian, thì Thân này là Ứng kỳ của sự kiện, lưu ý trong tình huống này ta không chia giai đoạn mà can thiệp được, mà phải mặc định chấp nhận kết quả của sự kiện này với lối cư xử thông thường tương ứng với bản chất của các hào Dụng và Thế sau cùng.

Các điểm Ứng kỳ đặc biệt này cực kỳ quan trọng trong những sự kiện có xác định thời gian hoặc các sự kiện liên tục chưa bắt đầu. Với các sự kiện liên tục chưa bắt đầu, ta có thể chọn thời điểm khai trương tương ứng với điểm Ứng kỳ đặc biệt để đạt hiệu quả cao nhất. Nếu không chọn được điểm này, ta bắt buộc phải chọn điểm thuộc quãng sau của hai giai đoạn, bởi sự kiện liên tục là những việc xác định kéo dài theo thời gian, thì mặc định Dụng thần và Thế phải hoàn hảo hẵng bắt đầu, tránh việc vội vàng, sẽ hối hận về sau.

Trường hợp 2: Dụng thần nằm trong Cục

Khi đó, ta theo công thức trên, trước thời điểm đủ chi, thì Dụng thần này xem như bất động. Chuyện bất động này tương tự các tình huống đặc biệt của hai giai đoạn Tuần không, Nguyệt Phá hay Nhập Mộ, tại đấy, đối với các sự kiện xảy ra một lần có xác định thời gian, thì giai đoạn đầu trước thời điểm thực Chi, ta có bản chất của Dụng thần bị đảo ngược. Nhưng một lưu ý với tình huống này, giả sử Dụng thần là Ngũ hành của Cục, thì ta mặc định sau lúc thực chi Dụng thần này Vượng, nên trường hợp này, trước thời điểm thực Chi ta xem như Dụng thần suy, tương đương việc hỏng. Vậy giả sử kết quả cuối của Cục là hỏng thì sao, như ví dụ này:

Trạch Thiên Quải hóa Thiên Thủy Tụng Cung Khôn · Thổ
Huynh Đệ Mùi Thổ × Huynh Đệ · Tuất Thổ
Tử Tôn Dậu Kim Thế
Thê Tài Hợi Thủy
Huynh Đệ Thìn Thổ Phụ Mẫu · Ngọ Hỏa
Quan Quỷ Dần Mộc Ứng
Thê Tài Tý Thủy Quan Quỷ · Dần Mộc

Có hai câu hỏi với quẻ này, nếu tất cả hào Động, hào biến đều trong trạng thái hoàn hảo, nghĩa đủ sức cấu thành nên Cục, thì:

  • Đối với tình huống sự kiện xảy ra một lần không xác định thời điểm, thì ta kết luận Thê Tài ra sao, và vào lúc nào? Đối với những quẻ không xác định thời gian, ta mặc định xác nhận Cục hiện hữu, trong tình huống này là Thủy Cục, thì Huynh Đệ hóa tiến khắc Cục là mất Cục. Giả sử việc hỏi về tiền, Tài làm Dụng, thì Huynh hóa Tiến khắc mất Dụng thần, là hỏng việc. Sau khi xác định được kết quả sự kiện, ta có thời điểm Ứng kỳ trùng với thời điểm hiện chi còn lại trong Cục. Ở đây kết luận rằng, sẽ mất tiền tại thời điểm Thân Kim
  • Vậy thì, đối với tình huống sự kiện xảy ra một lần xác định thời gian hay các sự kiện liên tục, kết quả của hai giai đoạn trước và từ Thân là sao? Trường hợp này sẽ tương tự trường hợp hào Động khắc hào Tĩnh tuần không, đều là việc thay đổi bản chất với mốc thời điểm là Ứng kỳ đặc biệt của trạng thái đề cập đến, khi đó, ta sẽ xem như sau:
    • Bước 1: Giải quẻ như thông thường, trường hợp hào hiện đang tĩnh vì tác động bởi trạng thái thì ta giả sử hào này xuất hiện luôn, sau đó ra kết quả của quẻ này. Với ví dụ trên, ta giải tương tự như tình huống sự kiện xảy ra một lần kể trên.
    • Bước 2: Tìm Mốc Ứng kỳ đặc biệt. Với trường hợp này là Thân để thực Thủy Cục. Khi đó ta chia sự kiện thành hai giai đoạn. Giai đoạn 1 tức trước điểm Ứng kỳ đặc biệt, thì kết quả sẽ ngược với kết quả cuối cùng. Giai đoạn 2 tương ứng với từ điểm Ứng kỳ đặc biệt đến về sau, kết quả sẽ trùng khớp với kết quả cuối cùng
    Ví dụ với quẻ này, ta có Thân là điểm Ứng kỳ đặc biệt, giả sử quẻ này Hỏng vì Huynh tiến khắc Cục Dụng thần, thì nếu thời điểm xảy ra sự việc trước Thân, thì việc vẫn thành, sau Thân, việc hỏng.

Trường hợp 3 và 4: Thế nằm trong Cục

Với tình huống thứ 3, hào Thế nằm trong Cục khuyết, trường hợp này tương tự trường hợp trên. Nhưng gộp chung cả hai trường hợp lại sẽ có một lưu ý như sau: Hào Thế và Dụng vẫn chịu tác dụng của hào Biến trong Cục, và kết quả cuối cùng của chuỗi tác động các hào Động với nhau. Nên với trường hợp Tam hợp, ta sẽ khó khăn hơn những trường hợp khác trong việc đi tới kết luận cuối, vì phức tạp hơn. Vẫn chia giai đoạn như trên.

Với tình huống thứ 4: Thế và Dụng đều nằm trong Cục, thật ra vẫn giống hai trường hợp trên, nhớ chia giai đoạn là được.

Tam hợp đủ chi mà có hai hào hỏng

Với trường hợp hai hào trong Cục khuyết Chi, ta tính như trên, nhưng đối với trường hợp Tam Hợp đủ chi, mà trong tam hợp có hai hào hỏng thì sao, ví dụ: Một hào Tuần không, một Nguyệt Phá, khi đó sẽ còn hợp Cục hay không? Câu trả lời là có, những trường hợp khác nhau trong Cục sẽ vi tế như vậy, khác nhau từng chặp một, trường hợp này, ta sẽ không lấy điểm gần nhất, mà ta lựa chọn điểm xa hơn trong hai điểm gần nhất đại diện hai trạng thái. Để dễ hiểu hơn, ta đi qua một ví dụ như sau:

Thủy Địa Tỷ hóa Thủy Hỏa Ký Tế Cung Khôn · Thổ
Thê Tài Tý Thủy Ứng
Huynh Đệ Tuất Thổ
Tử Tôn Thân Kim
Quan Quỷ Mão Mộc Thế × Thê Tài · Hợi Thủy
Phụ Mẫu Tỵ Hỏa
Huynh Đệ Mùi Thổ × Quan Quỷ · Mão Mộc

Xem vào ngày Quý Tỵ, tháng Dậu, ta có Mùi Thổ Tuần không, Mão Mộc Nguyệt Phá, giả sử ta lấy quy chiếu về Ngày, ta có hai điểm Ứng kỳ của hào Tuần không là Mùi và Sửu, với Nguyệt Phá là Mão Tuất, ta có thứ tự như sau:

  • Ứng kỳ gần nhất của các nhóm trạng thái
  • Ứng kỳ xa hơn của hai điểm gần nhất trong nhóm trạng thái riêng biệt, sẽ được chọn làm Mốc

Vậy với trường hợp này, Ứng kỳ gần nhất so với hiện tại là Mùi Thổ, sau đó đến Tuất Thổ, vậy đại diện cho trạng thái Tuần không là Mùi Thổ, rồi đến Tuất Thổ là Nguyệt Phá, vậy ứng với các Ứng kỳ gần nhất, thì Nguyệt Phá xa hơn. Khi đó ta lấy trạng thái Nguyệt Phá làm chuẩn, ta lấy điểm gần nhất của Nguyệt Phá là Tuất làm quy chiếu. Vậy với trường hợp này ta lấy Ứng kỳ là Tuất làm Mốc quy chiếu với trường hợp sự kiện xác định thời gian, và sự kiện liên tục, là mốc Ứng kỳ đối với sự kiện không xác định thời gian, vẫn theo nguyên tắc đảo ngược kết quả trước Ứng kỳ. Cái này hơi khó, nên đọc kỹ.

Mộ trong Cục

Riêng về Mộ, nếu Dụng và Thế nằm trong Cục mà hào biến là Mộ, kèm theo hào Động khác cũng là Mộ, thì cái này vẫn tính nhập Mộ hai lần, vẫn tính hỏng như thường, ví dụ quẻ Địa Lôi Phục hóa Địa Sơn Khiêm trên: Nếu Thìn Thổ không vấn đề gì, Thân Kim cũng vậy, thì Thế này vẫn tính nhập Mộ hai lần, khi đó tính chất và kết quả vẫn như nhập Mộ hai lần trong các tình huống khác.

Tương tự với Dụng, ta cũng sẽ tính như vậy, điểm cần lưu ý ở đây rằng, nếu Cục sinh Dụng hay Thế, thì lại trở lại tính chất hào nhập hai lần Mộ được hào động sinh cho, khi đó, Ứng kỳ việc thoát tại lúc xung Mộ.

Ứng kỳ gần, xa và thông tin của Cục

Ứng kỳ chỉ có 2 dạng: Gần và Xa. Hầu hết sẽ lấy Ứng kỳ gần, duy có trường hợp xuất hiện hai điểm có vấn đề, thì ta lựa chọn điểm xa hơn trong hai điểm gần nhất đại diện hai trạng thái.

Về mặt thông tin, Hợp Cục báo hiệu sự chung đụng của một nhóm để hướng về một mục tiêu, mục tiêu đó được đại diện bởi Ngũ hành của Cục. Khi đó tất cả những yếu tố bên trong Cục sẽ không được tính tới, chỉ tính đến hành Cục mà thôi. Khi đó thông tin được tới là có một nhóm sẽ tác động đến chúng ta, còn việc tác động tốt hay xấu, lại trở lại câu chuyện hào Động, bởi kỳ thực, về bản chất, Tam Hợp Cục và hào Động cơ chế tác động các hào gần giống nhau, khác duy nhất về mặt thông tin và bản chất của Tam Hợp Cục luôn mặc định là Vượng.

Xem thêm

Khái niệm liên quan

Thử áp dụng vào một quẻ thật: An quẻ Lục Hào Gieo quẻ Mai Hoa Các khái niệm khác