Nền tảng Lục Hào
Kỵ thần
Tác giả Vi Nhật Sơn · Cập nhật
Kỵ thần là gì? Kỵ thần là thần khắc Dụng thần, cùng với Nguyên thần là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến Dụng thần; muốn khắc được Dụng thần, Kỵ thần phải động và vượng.
Về khái niệm, Kỵ thần là thần khắc Dụng thần, cùng với Nguyên thần, là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến Dụng thần.
Khi nào tính Kỵ thần
Về Nguyên tắc, Kỵ thần chỉ được tính khi hào đó động hoặc trì Thế, hoặc là Phi thần với trường hợp cần phải xét đến Dụng thần, ngoài các trường hợp đó ta không quan tâm đến Kỵ thần.
Kỵ thần muốn khắc được Dụng thần
Kỵ thần muốn khắc được Dụng thần cần đảm bảo 2 yếu tố cơ bản:
- Kỵ thần động
- Kỵ thần vượng
Kỵ thần vượng bao gồm các yếu tố như sau:
- Được Nhật Nguyệt sinh
- Hưu tù được Nhật hoặc Nguyệt hợp
- Lâm Nhật Nguyệt
- Được hào động sinh cho, hào động đó phải từ hưu trở lên
- Hưu mà hóa sinh
- Trường sinh tại Nhật hoặc hào biến
- Hóa vượng tại hào biến
Ngoài các trường hợp trên, Kỵ thần có động chỉ báo rằng tại thời điểm ứng kỳ của Kỵ thần, vẫn có yếu tố bất lợi đến Dụng thần, nhưng yếu tố đấy không đủ mạnh để làm tổn hại Dụng thần.
Dụng thần hóa Kỵ thần
Các trường hợp trên không bao gồm trường hợp Dụng thần hóa khắc, tức Dụng thần hóa Kỵ thần, trong trường hợp này bất kể Kỵ thần vượng hay suy, Dụng thần vượng hay suy cũng đều dẫn đến kết quả hỏng việc. Nhưng sự khác nhau giữa Dụng vượng mà hóa Kỵ hưu hoặc suy so với Dụng suy mà hóa Kỵ vượng đó là trường hợp Dụng vượng, thì trước chưa xảy ra chuyện gì, việc hỏi vẫn thành với điểm Ứng kỳ của Dụng thần, nhưng đến thời điểm Ứng kỳ về địa chi của Kỵ thần, việc hỏi sẽ hỏng. Và ngược lại, nếu Kỵ thần vượng thì việc hỏi hỏng ngay lập tức. Nhưng Ứng kỳ của Kỵ thần sẽ được tính theo mức độ suy của Kỵ thần, nếu Hưu tù thì tính theo tháng, Vượng tính theo ngày giờ, suy hoặc vô căn tính theo năm.
Kỵ thần trì Thế
Trong hầu hết các trường hợp, Kỵ thần trì Thế đều hỏng, Thế đại diện cho bản thân, Dụng đại diện cho việc hỏi, mình khắc việc hỏi, là mình đi sai đường, giữa mình và việc, không nên là quan hệ đánh nhau, tốt nhất thế, họa hoằn trong một số trường hợp, Dụng khắc Thế mà Dụng vượng Thế vượng vẫn qua được nhưng bản thân cũng mệt mỏi lắm.
Tuy vậy, vẫn tồn tại một số trường hợp Kỵ thần Trì Thế vẫn dùng được, bao gồm:
Kỵ thần trì Thế nhưng động hóa ra Dụng thần
Nguyên tắc cơ bản trong Dịch, hào động không tác động được đến hào biến, từ đây sinh ra việc hào Dụng thần tại biến không bị hào động khắc thương, nên hầu hết các trường hợp, Kỵ thần trì Thế động hóa Dụng thần đều báo việc thành công, bất kể vượng suy của Dụng thần, vì hào biến không chịu tác động của Nhật và Nguyệt trừ một số trường hợp đặc biệt, ví dụ:
Quẻ Hàm hóa Tụy
| Phụ Mẫu | Mùi Thổ | Ứng | ||||
| Huynh Đệ | Dậu Kim | |||||
| Tử Tôn | Hợi Thủy | |||||
| Huynh Đệ | Thân Kim | Thế | ○ | Thê Tài · Mão Mộc | ||
| Quan Quỷ | Ngọ Hỏa | |||||
| Phụ Mẫu | Thìn Thổ |
Hỏi về Tài, là có tiền, nhưng tại thời điểm Ứng kỳ của Huynh vẫn mất, nhưng không được với Tài.
Nhưng trường hợp này không bao gồm các trường hợp sau:
Tử biến Quan trong việc hỏi công danh, với việc Tử biến Quan này, Tử không bị Không, Phá, Mộ thì việc hỏi sẽ thành, nhưng nếu Tử Không, Phá, Mộ thì báo việc nhận được công danh nhưng không nhậm chức được vì tai nạn trong khoảng giữa thời điểm nhận quyết định và thời điểm nhậm chức, nên khi gieo được quẻ này, trong thời điểm từ lúc nhận quyết định cho đến lúc thực nhậm chức, tuyệt đối giữ mình, cách giữ mình bao gồm không gian và thời gian. Thời gian lúc Ứng kỳ của Tử, Không thì xung thực, Mộ thì xung khai, Phá thì Hợp trực, đấy là lúc bản thân nguy hiểm. Về không gian, thì Tử ở đâu, thì biết tránh đấy. Nếu Tử tại Nội quái thì tránh ra ngoài, Tử tại Ngoại thì ở nhà, thời điểm như trên.
Ví dụ: Ngày Canh Thìn, tháng Mão:
| Quan Quỷ | Mão Mộc | Ứng | ||||
| Phụ Mẫu | Tỵ Hỏa | |||||
| Huynh Đệ | Mùi Thổ | |||||
| Tử Tôn | Thân Kim | Thế | ○ | Quan Quỷ · Mão Mộc | ||
| Phụ Mẫu | Ngọ Hỏa | |||||
| Huynh Đệ | Thìn Thổ |
Người nghe tin được nhận chức mới, nhưng đến ngày hôm sau thì xảy ra tai nạn.
Ngoài ra, Tài biến Phụ, nếu đơn thuần xin việc tư nhân, thì báo nhận được quyết định thử việc nhưng không làm chính thức. Ví dụ:
| Phụ Mẫu | Tý Thủy | |||||
| Thê Tài | Tuất Thổ | Thế | ○ | Phụ Mẫu · Hợi Thủy | ||
| Quan Quỷ | Thân Kim | |||||
| Quan Quỷ | Dậu Kim | |||||
| Phụ Mẫu | Hợi Thủy | Ứng | ||||
| Thê Tài | Sửu Thổ |
Dụng thần hợp Thế
Trường hợp này xem như quẻ thông thường, tính hợp không tính khắc, báo việc sẽ hoàn toàn tự tìm đến mình, nghĩa là điều kiện thuận lợi khi chưa sẵn sàng, nhưng cuối cùng đều xong cả, chỉ duy quan hệ người với người, thì bằng mặt không bằng lòng, nhưng đến cuối, chuyện vẫn sẽ xong. Ví Dụ:
| Quan Quỷ | Dần Mộc | Ứng | ||
| Thê Tài | Tý Thủy | |||
| Huynh Đệ | Tuất Thổ | |||
| Huynh Đệ | Sửu Thổ | Thế | ||
| Quan Quỷ | Mão Mộc | |||
| Phụ Mẫu | Tỵ Hỏa |
Lấy Tài làm Dụng, Tài hợp Thế.
Dụng thần xung Thế
Trường hợp này tương tự trường hợp Dụng thần hợp Thế, duy chỉ khác ở chỗ, là việc bất ngờ đến, như từ trời rồi xuống, ví dụ:
| Quan Quỷ | Tỵ Hỏa | |||
| Phụ Mẫu | Mùi Thổ | |||
| Huynh Đệ | Dậu Kim | Thế | ||
| Thê Tài | Mão Mộc | |||
| Quan Quỷ | Tỵ Hỏa | |||
| Phụ Mẫu | Mùi Thổ | Ứng |
Lấy Tài làm Dụng, Thê Tài Mão Mộc xung Thế.
Dụng thần nằm tại hào biến
Trường hợp này không riêng việc hào Dụng thần nằm tại hào biến của Thế động, mà bao gồm cả những trường hợp động biến tại các hào khác, ví dụ: (sách không kèm đồ hình)
Trong tình huống này, với các vấn đề mang tính chất một sự kiện cố định xảy ra trong tương lai, thì kết quả được bất kể vượng suy, nhưng không dùng được trong các sự kiện mang tính lâu dài, ví dụ: Quẻ Khiêm hóa Minh Di
| Huynh Đệ | Dậu Kim | |||||
| Tử Tôn | Hợi Thủy | Thế | ||||
| Phụ Mẫu | Sửu Thổ | |||||
| Huynh Đệ | Thân Kim | |||||
| Quan Quỷ | Ngọ Hỏa | Ứng | ||||
| Phụ Mẫu | Thìn Thổ | × | Thê Tài · Mão Mộc |
Tài làm Dụng, trường hợp này vào thời điểm Mão Mộc có tiền từ người với đặc điểm như hào Phụ Mẫu Thìn Thổ mà có tiền.
Ngoài ra quan hệ người và người cũng không áp dụng được, bởi sẽ báo hai bên chẳng hiểu gì về nhau, ngoại trừ trường hợp Kỵ thần trì Thế biến ra Dụng, khi đó tuy không vừa ý nhưng cũng sẽ thành. Ví dụ quẻ Khiêm hóa Minh Di ở trên: Nếu hỏi chuyện tình cảm vợ chồng, thì tương lai không dẫn đến đâu, vì hào chánh và hào biến không liên quan gì đến nhau cả, nguyên nhân của việc kết thúc là bởi vợ chồng đồng sàng dị mộng.
Thế Không, Mộ
Với trường hợp này, sẽ tính theo nguyên tắc vòng tròn địa chi đã nói, đó là thời điểm ứng kỳ của Dụng thần và của Thế, đâu hiện trước thì lấy trước với điều kiện Dụng vượng, nếu không, cũng chỉ báo được rằng, bản thân mình đang có vấn đề mà thôi, ví dụ:
Ngày Nhâm Dần, tháng Hợi:
| Huynh Đệ | Tý Thủy | Ứng | ||||
| Quan Quỷ | Tuất Thổ | |||||
| Phụ Mẫu | Thân Kim | |||||
| Huynh Đệ | Hợi Thủy | Thế | ○ | Quan Quỷ · Thìn Thổ | ||
| Quan Quỷ | Sửu Thổ | |||||
| Tử Tôn | Mão Mộc |
Lấy Tài làm Dụng, Tài Phục dưới Thế, Thế Mộ nên Tài hiện, lúc này Ứng kỳ của Tài tại Tỵ Ngọ, của Thế tại Tuất, theo thứ tự địa chi, Dần đến Tị Ngọ, nên việc có tiền sẽ có vào lúc Tị Ngọ.
Không liên quan đến bản thân
Còn lại là các trường hợp không liên quan đến bản thân như sức khỏe người thân, công việc học tập người thân…., khi đó chỉ cần chọn Dụng thần mà xem được.
Xem thêm
- Hào Thế — Thế lâm Kỵ thần và cách sửa
- Nguyên thần, Cừu thần
- Quẻ đơn động — Kỵ thần động tương quan với hào Thế
- Ứng kỳ, Hào biến