Vượng suy và tương quan
Mộ
Tác giả Vi Nhật Sơn · Cập nhật
Mộ là gì? Mộ (nhập mộ) chia thành hai trạng thái vượng và suy, hào vượng suy nhập mộ sẽ khác nhau; mộ vượng đến lúc xung Mộ sẽ dùng được.
Mộ chia thành hai trạng thái gồm vượng và suy, hào vượng suy nhập mộ sẽ khác nhau.
| Hành | Mộ tại |
|---|---|
| Kim | Sửu |
| Mộc | Mùi |
| Hỏa | Tuất |
| Thủy · Thổ | Thìn |
Mộ vượng và Mộ suy
Giả như vượng, trong tình huống không cấp thời hoặc nhân sự, xung mộ sẽ dùng được, trừ trường hợp Nguyên động, Nguyên động việc hỏng hẳn, lại trừ trường hợp Kỵ động, khi đấy chờ đến khi xung Mộ việc sẽ thành vì Kỵ sinh Nguyên sinh Dụng. Nguyên tắc chung cho các vấn đề như Không gặp Mộ, Phá gặp Tuyệt hoặc Nguyên Mộ đó là hào Nguyên thần của chính hào Mộ phải động. Ví dụ:
Ngày Đinh Mùi tháng Dần, quẻ Đỉnh hỏi sức khỏe của con ra Đỉnh hóa Hằng:
| Huynh Đệ | Tỵ Hỏa | ○ | Tử Tôn · Tuất Thổ | |||
| Tử Tôn | Mùi Thổ | Ứng | ||||
| Thê Tài | Dậu Kim | |||||
| Thê Tài | Dậu Kim | |||||
| Quan Quỷ | Hợi Thủy | Thế | ||||
| Tử Tôn | Sửu Thổ |
Tại quẻ này Dụng lâm Nhật, lại được Nguyên động sinh cho đúng ra tượng sẽ hết bệnh trong ngày, nhưng đến ngày Hợi thì báo con mất. Mất vì Nguyên thần động hóa Mộ không sinh được cho Dụng, Dụng như cây cao mà không còn gốc, đành chịu. Mất ngày Hợi vì Hợi xung Tỵ mất Nguyên.
Nhưng cũng trong quẻ này, giả thử có Dần Mộc tại nội quẻ động (Tất cả trường hợp muốn chơi đều phải nằm ở thế động, như Kỵ động mới xét, Nguyên động cũng vậy, trừ Dụng hoặc Thế) thì có thể cứu được, cứu được vào ngày Thìn, vì tại lúc này, Thìn xung Tuất mà Nguyên hoạt động được thành chuỗi Phụ sinh Huynh sinh Tử.
Đấy là trường hợp cá biệt, còn cơ bản cứ Dụng vượng hỏi sức khỏe tiền bạc công danh đều chỉ cần đến lúc xung Mộ, nhưng phải xét rõ quy mô sự việc để biết là ngày giờ tháng hay năm. Hỏi con bệnh cảm thời gian hết không tính bằng năm, hỏi kinh doanh thời gian không xem bằng ngày, thế thôi.
Ví dụ: Ngày Thìn tháng Hợi con bệnh mà Dụng Hợi thì đến ngày Tuất hết. Cái này lại liên quan đến Nguyệt kiến, vì Tử lâm Nguyệt nên trong tháng sẽ hết.
Mộ chỉ dùng với Nhật
Ngoài ra, điều đáng lưu ý rằng Mộ, chỉ dùng với Nhật, vì sao lại phải nhắc nhiều lần, vì điều này liên quan đến vòng trường sinh, nhầm Nhật và Nguyệt như nhau, sẽ dẫn đến nhầm của vòng trường sinh.
Nguyên tắc bản môn, tức "Dịch của Sơn", là bạn có thể đúng, hoặc sai, điều đấy không quan trọng, nhưng có sai hay đúng cũng phải hiểu vì sao đến thế. Điều này phổ quát cho cuộc đời thông thường.
Điều lưu ý đặc biệt tại đây, với chuyện tình duyên, nếu Dụng mộ thì lúc xung Dụng sẽ có duyên mới, chứ không phải thành với Duyên này. Hay nếu hỏi gặp gỡ đối tác mà Dụng mộ, thì thông thường việc hỏng, nhưng nếu biết tác động chủ động bằng cách hối thúc, việc sẽ thành với trường hợp Dụng vượng.
Kỵ, Cừu nhập Mộ
Trong trường hợp Kỵ động, mà mộ, nếu Kỵ vượng, ứng lúc xung mộ sẽ xảy ra chuyện, nếu Kỵ suy, lúc xung mộ cũng ra chuyện, nhưng nếu Dụng vượng thì trục trặc tại lúc đấy, nhưng qua được, an tâm.
Ví dụ: Ngày Giáp Dần, tháng Sửu, Gia Nhân hóa Ích, hỏi sức khỏe con:
| Huynh Đệ | Mão Mộc | |||||
| Tử Tôn | Tỵ Hỏa | Ứng | ||||
| Thê Tài | Mùi Thổ | |||||
| Phụ Mẫu | Hợi Thủy | ○ | Thê Tài · Thìn Thổ | |||
| Thê Tài | Sửu Thổ | Thế | ||||
| Huynh Đệ | Mão Mộc |
Ngày Tuất mất, vì Tuất xung Mộ Kỵ khắc Thế. Tại mùa Đông, Hợi Thủy có khí, vẫn hại như thường, lại còn được Nhật hợp.
Nhưng nếu giả như là tháng Dần, thì đến Tuất chỉ nặng lên chút đỉnh mà qua được, đáng tiếc.
Trường hợp Cừu động, thì tương tự, nhưng sự tương tự không ở tình huống trực tiếp trừ sức khỏe. Nếu là sức khỏe, Cừu vượng đến lúc xung Mộ thì mất. Còn các tình huống khác báo các nguy cơ gián tiếp, như kinh doanh thì biết tại thời điểm xung Mộ, sẽ bị người với đặc điểm như hào hay phá mình mất vốn, đôi khi là lấy tiền hoặc trộm, cho vay mà mất... hoặc sẽ hỏng hàng hóa, biết thời điểm mà trong ngày tháng đấy phải đề phòng hoàn toàn mọi thứ với đặc điểm liên quan, mà may ra thoát được, còn những tình huống bất khả kháng như mưa to lụt hư đồ đành chịu. Với giấy tờ như những bài khác đã phân tích, sẽ hỏng.
Nhưng đấy là trong khoảng không gian thời gian vô hạn, nếu trong tình huống những đoạn không gian giới hạn, hay việc cấp thời, nếu Kỵ Cừu Mộ thì không sao, khi qua khỏi khoảng không gian đấy mới ra chuyện, còn trong thời gian đấy vẫn ổn. Tương tự trường hợp Dụng, trong khoảng thời gian chưa đến lúc xung, sẽ hỏng việc.
Ví dụ: Ngày Canh Tuất, tháng Dần, đi phỏng vấn xin visa ngày mai đậu rớt ra sao? Ra Phong hóa Minh Di:
| Quan Quỷ | Tuất Thổ | |||||
| Phụ Mẫu | Thân Kim | Thế | ||||
| Thê Tài | Ngọ Hỏa | ○ | Quan Quỷ · Sửu Thổ | |||
| Huynh Đệ | Hợi Thủy | |||||
| Quan Quỷ | Sửu Thổ | Ứng | ||||
| Tử Tôn | Mão Mộc |
Thế lâm Phụ được Nhật sinh vượng, Kỵ động được Nguyệt sinh, may Kỵ Mộ Nhật, may mai mới ngày Hợi nên không sao. May đậu thật, nhưng đến ngày Thìn lại té xe, vì xung Mộ kỵ động khắc Thế.
Các điều kiện không tính Mộ
Ngoài ra cần Lưu ý các điều kiện như sau sẽ không tính Mộ nữa bao gồm:
- Nhật hoặc Nguyệt xung Mộ tại thời điểm hỏi, ví dụ ngày Tuất, Hào Tý Thủy hóa Thìn, Thì sẽ không tính là hóa Mộ, mà tính là hóa Thìn Thổ vì khi đó Nhật đã xung mất Mộ của Thủy
- Hào động xung Hào động làm Mộ: Ví dụ: Hào Thìn và Tuất đều động, Tý Thủy sẽ không tính Mộ tại hào Thìn vì lúc này Hào Động Tuất đã xung mất hào Thìn. Lưu ý ở trường hợp này, sẽ chỉ xảy ra khi hào Động dùng được, tức không hóa Không, hóa Phá……
- Hào Mộ bị Hưu còn bị Nguyệt hay Nhật khắc (Kể cả hào biến), ví dụ: Hào Dần Mộc hóa Mùi Thổ, nếu xem vào ngày Dần tháng Tý, sẽ không tính Mộ vì hào Mùi Thổ hưu tù bị Nhật khắc
- Hào Mộ (Kể cả hào Biến) bị Tuần Không, Nguyệt Phá, hào biến của hào Mộ Tuần Không, Nguyệt Phá, sẽ không tính Mộ, ví dụ: Hợi hóa Thìn mà Thìn Không hoặc Phá, hay Nhật xung, ta không tính Hợi vì Mộ tại Thìn mà chỉ tính Hợi hóa Khắc. Hay Dụng thần Hợi, Thìn động hóa Tuần Không hoặc Nguyệt Phá, Thìn này sẽ không tính là Mộ của Hợi vĩnh viễn, mà tính như một hào Động bị Tuần không, Nguyệt phá thông thường
Xem thêm
- Tùy quỷ nhập mộ
- Vòng trường sinh — Không sợ Mộ
- Tuần không — Mộ gặp Tuần không
- Quá vượng, Ứng kỳ