Luận quẻ
Lưỡng hiện
Tác giả Vi Nhật Sơn · Cập nhật
Lưỡng hiện là gì? Lưỡng hiện chỉ trường hợp trong quẻ có hai Dụng thần; ưu tiên hào động, hào Thế, hào hợp Thế rồi mới đến hào thông thường, và báo thêm thông tin về vấn đề.
Về khái niệm, Lưỡng hiện chỉ trường hợp trong quẻ hai Dụng thần. Một quẻ có ít nhất một cặp như vậy, vì luôn có hai Thổ trong một quẻ bởi cách sắp địa chi. Ví dụ:
| Phụ Mẫu | Tuất Thổ | Thế | ||
| Huynh Đệ | Thân Kim | |||
| Quan Quỷ | Ngọ Hỏa | |||
| Phụ Mẫu | Thìn Thổ | Ứng | ||
| Thê Tài | Dần Mộc | |||
| Tử Tôn | Tý Thủy |
Tại quẻ này, Phụ Lưỡng hiện tại Tuất và Thìn. Giống như các quẻ khác, không tự nhiên mà Dụng Lưỡng hiện. Một quẻ, thực ra sẽ báo rất nhiều dữ kiện hơn việc có/không, đúng/sai, ứng kỳ. Trong đoạn trước kia, phải luôn tránh mọi người để ý đến việc Bội hóa thông tin khi xem quẻ cho đến khi tất cả Khái niệm bước 1 của Lục hào được mình Bạch Hóa, đến đây, xem đến đoạn 2, đó là những thông tin thêm trong quẻ gồm những gì.
Luôn có lý do cho việc động nhiều, hay ít, hay lưỡng hiện, hay Phục, hoặc hóa Không, hay Không, Phá hoặc Xung. Nếu chỉ đơn thuần là báo kết quả đường thẳng, chỉ cần quẻ an tĩnh, với Dụng Vượng/Suy, quan hệ Thế/Dụng mà biết, cần gì hơn. Quẻ càng nhiều vấn đề, tức bản thân sự kiện càng nhiều vấn đề.
Thứ tự ưu tiên khi Dụng lưỡng hiện
Về nguyên tắc, sẽ ưu tiên như sau trong quẻ Dụng lưỡng hiện:
- Hào Động
- Hào Thế
- Hào Hợp Thế
- Sau đấy mới đến hào thông thường
Với hào Động hay Thế, hay hợp Thế (Ví dụ: Quẻ Bĩ với Phụ Dụng), việc xem cứ như quẻ thông thường đơn hiện. Còn với trường hợp hào Dụng không động hay trì Thế, việc lấy Vượng/Suy sẽ tại hào không bị Không/Phá, nhưng Ứng kỳ lại tại hào bị Không/Phá.
Ví dụ: Tháng Tuất, ngày Giáp Dần:
| Phụ Mẫu | Tuất Thổ | |||
| Huynh Đệ | Thân Kim | Ứng | ||
| Quan Quỷ | Ngọ Hỏa | |||
| Huynh Đệ | Thân Kim | |||
| Quan Quỷ | Ngọ Hỏa | Thế | ||
| Phụ Mẫu | Thìn Thổ |
Nếu lấy Phụ làm Dụng, cụ thể hơn là việc Giấy tờ, thì Phụ Mẫu Tuất Thổ lâm Nguyệt nên tính Phụ vượng là việc thành, hào Phụ mẫu Thìn Thổ Nguyệt Phá sẽ tính thời điểm Ứng kỳ của sự kiện, tức lúc việc giấy tờ thành, tức tháng Thìn/Dậu, hoặc năm Thìn/Dậu.
Lưỡng hiện khác hào động ở đâu
Về mặt luận giải cơ bản là như vậy, tức chỉ xoay quanh có/không, lúc nào. Nhưng về mặt bổ trợ thông tin thì việc Lưỡng hiện khác với việc Phụ Thìn động, dù đều cùng báo việc thành và thành tại cùng chi Thìn/Dậu.
Cái khác đầu tiên, là thời điểm Ứng kỳ: Với hào Lưỡng hiện thông thường không bị Không/Phá, thì sẽ xảy ra 4 điểm Ứng kỳ, thì lại như quy tắc, hiện tại gần đâu hơn sẽ lấy đó là chuẩn tính theo chiều thuận mà lấy, Ví dụ ngày Dần, Có 4 điểm Ứng kỳ là: Thìn Tuất Sửu Mùi, thì Dần gần với Thìn nhất theo chiều thuận kim đồng hồ, nên Ứng kỳ sự kiện tại Thìn. Thời điểm Ứng kỳ của hào Phá mà động có thể ứng vào giờ hoặc ngày/tháng/năm, còn Nguyệt Phá sẽ ứng trong tháng hoặc năm.
Khác thứ hai: Là khi hào bị Nhật hoặc Nguyệt xung mà không được hợp, là việc hỏi về kết quả vẫn như luận thông thường, nhưng đường đi sẽ bị chẻ nhỏ, nếu Tiền là tiền lẻ dù tổng lại như số kỳ vọng, nếu Giấy tờ là nhiều công đoạn cho đến cuối.
Khác thứ ba: Là Lưỡng hiện báo các tính chất của vấn đề: Lưỡng hiện, tuy cùng hành, nhưng chắc chắn khác Lục Thần, hay gọi là Lục Thú.
- Nếu là người, sẽ là người với nhiều đặc điểm tính cách, nhưng không đồng thời, nghĩa là lúc này sẽ này, lúc kia sẽ kia, ví dụ: Hỏi về Chồng mà Quan lâm Thanh Long và Phi Xà, thì người có vấn đề khúc mắc về tâm lý, từng có giai đoạn trầm cảm trong cuộc đời, và hiện tại đang stress, ăn không ngon, mơ linh tinh, nhưng với bên ngoài là người vui vẻ, quảng giao, nếu gia thêm Âm/Dương sẽ biết thêm đây là người quyết đoán ở đâu mà yếu đuối ở đâu….
- Nếu là việc, thì báo thêm thông tin về sự việc đó, như Tiền: Là báo có 2 nguồn tiền, nếu là Chu Tước và Phi Xà, thì một nguồn do nói mà có, một nguồn tiền bẩn/mờ ám….
- Nếu Một hỏng, một dùng được, là một trong hai dùng được, cái còn lại hỏng, về người thì với tính cách nào bị hỏng, là lúc thể hiện người đấy phải cố gắng, nhưng trong lòng chẳng vui, suy quá thì mệt…
Các lưu ý về thời điểm với Lưỡng hiện
Vậy thông qua đây ta dễ dàng thấy được rằng, ta có những lưu ý sau với Lưỡng hiện:
Hai hào đều động
Hai hào đều động, nếu có hào hóa khắc thì ta lấy theo vòng Địa chi (Lưu ý phải cùng Quy chiếu, nghĩa là phải cùng năm, cùng tháng…) giữa hào nguyên vẹn và hào hỏng, thì điểm nào trước ta lấy trước (tính theo chiều kim đồng hồ với thứ tự của Địa chi): Nếu điểm hỏng xuất hiện trước thì thời điểm hỏng đánh dấu việc quan tâm thất bại, và ngược lại, điều này tương tự với trường hợp Lục Xung hóa Lục Hợp, đều là hỏng trước thành sau, chỉ khác là trường hợp này, ta có thể xác định được thời điểm thành và bại của sự việc, không như Xung hóa Hợp, tuy cũng báo hỏng trước thành sau nhưng không xác định được thời gian, với các quẻ Xung hóa Hợp, Ứng kỳ nội quẻ không báo hiệu thời điểm xảy ra sự việc, còn bản chất các hào trong quẻ Chánh sẽ báo hiệu tình hình hiện tại của sự việc. Tương tự với trường hợp điểm thành công trước điểm thất bại. Ví dụ:
| Phụ Mẫu | Dậu Kim | |||||
| Huynh Đệ | Hợi Thủy | |||||
| Quan Quỷ | Sửu Thổ | Thế | × | Thê Tài · Ngọ Hỏa | ||
| Huynh Đệ | Hợi Thủy | |||||
| Quan Quỷ | Sửu Thổ | × | Tử Tôn · Dần Mộc | |||
| Tử Tôn | Mão Mộc | Ứng |
Lấy Quan Quỷ làm Dụng thần, ta có hai hào Quan Quỷ đều động, một hóa Tử khắc Quan, một hóa Tài sinh Quan. Vậy với tình huống thông thường không ảnh hưởng bởi trạng thái đặc biệt như Tuần không, Nguyệt phá… thì điểm Ứng kỳ sẽ tại Dần và Tý Sửu. Vậy giả sử xem vào ngày Sửu, thì trong ngày có kết quả, nhưng đến Dần thì hỏng việc, nếu xem vào ngày Dần thì trong ngày hỏng việc, đến ngày Tý thành có tin thành công, với những quy chiếu về thời gian khác cũng từ đấy mà tính.
Với trường hợp một trong hai hào Tuần không, Nguyệt phá hay hóa Tuần không, Nguyệt phá, hay bị Hợp…. Ta đều lấy các điểm riêng biệt của hai hào chứ không gộp lại thành một.
Với trường hợp hai hào xung nhau, theo Lý thuyết, hai hào xung nhau sẽ mất đi, tại thời điểm của hào này thì còn hào kia và ngược lại, ví dụ: Sửu Mùi xung nhau, đều là hai hào động, thì ta có Ứng kỳ Hào Sửu sẽ tại chi Sửu, Ứng kỳ hào Mùi sẽ tại chi Mùi, trường hợp Thìn Tuất cũng từ đó mà suy ra. Nếu hai hào đều không bị khắc, ta sẽ lấy Ứng kỳ của từng hào, sau đó đại diện Ứng kỳ của từng hào sẽ được xét, lưu ý, mỗi hào chỉ được xét với một Ứng kỳ, ví dụ: Thìn và Mùi, thì Ứng kỳ của Thìn là Thìn và Dậu, của Mùi là Ngọ và Mùi, thì trong vòng địa chi ta sẽ lấy 2 điểm gần nhất tính theo chiều thuận, mà mỗi Hào chỉ được tính một Chi mà thôi, giả sử xem vào ngày Tỵ, thì ta lấy 2 điểm là Ngọ và Dậu, chứ không phải lấy trọn vẹn 2 điểm Ngọ Mùi, vì mỗi hào chỉ lấy 1 điểm Ứng kỳ đại diện cho kết quả hào mà thôi.
Một động một tĩnh, hai tĩnh
- Với trường hợp 1 hào động 1 hào tĩnh, ta Ưu tiên hào động, khi đó ta không xét đến hào tĩnh luôn.
- Với trường hợp 2 hào tĩnh, 1 hào trì Thế, ta lấy hào trì Thế làm Dụng thần, không xét đến hào còn lại. Từ đây nảy sinh trường hợp 1 hào Động, 1 hào trì Thế ta sẽ tính như thế nào? Ta sẽ lấy hào Động làm Dụng thần, hào Thế khi đó chỉ mang chức năng làm hào Thế mà thôi, nghĩa là ưu tiên hào Động hơn hào Thế
- Trường hợp 2 hào tĩnh, nếu có hào bị Tuần không, Nguyệt phá, thì ta sẽ lấy hào Nguyên vẹn làm bản chất sự kiện, còn hào Tuần không, Nguyệt phá sẽ lấy làm điểm Ứng kỳ. Nếu trong hai hào đều có vấn đề với Tuần không, Nguyệt Phá cả thì ta bỏ hào Nguyệt phá, lấy hào Tuần không (nếu Vượng), sau đó xét điểm như Tuần không (Mục II), còn nếu hai hào bình thường thì lấy cái nào làm Dụng cũng được, chỉ khác nhau về mặt cung cấp thông tin mà thôi
Sự kiện xác định và không xác định thời gian
Vậy ta đã làm rõ được các điểm thời gian đối với trường hợp Lưỡng hiện. Tại đây, đối với:
- Những sự kiện xảy ra không xác định thời gian, thì ta có công thức tính thời điểm như trên, khi đó, ta lựa chọn thời điểm đối với việc thành, với phần thất bại ta can thiệp bằng không gian, trong phần sau sẽ nói
- Những việc xảy ra xác định được thời gian, tại đây sẽ khác chút so với các điểm Ứng kỳ của các trạng thái đặc biệt, là ta chỉ cần lấy bản chất của Dụng thần mà xét để ra được kết quả, nghĩa đây là kết quả đơn nhất. Duy chỉ có tình huống một vượng một hóa khắc là đáng lưu ý, khi đó ta chia quãng như sau: Giả sử gọi A là điểm Ứng kỳ thành công, B là Ứng kỳ thất bại, C là thời điểm hiện tại. Nếu C gần A hơn B, thì thời gian từ C đến A gọi là quãng thành, Từ A trở đi là hỏng, nghĩa là nếu thời điểm rơi vào trước A thì thành công, từ A trở đi là hỏng. Nếu C gần B hơn, thì ngược lại trường hợp trên: C đến B thì thành mà sau B thì hỏng, tính theo chiều kim đồng hồ
- Đối với những sự kiện xảy ra liên tục thì xét theo bản chất của hào, có điểm đột biến về việc sẽ nằm tại các điểm Ứng kỳ
Ví dụ: Ly vi Hỏa hóa Càn
| Huynh Đệ | Tỵ Hỏa | Thế | ||||
| Tử Tôn | Mùi Thổ | × | Thê Tài · Thân Kim | |||
| Thê Tài | Dậu Kim | |||||
| Quan Quỷ | Hợi Thủy | Ứng | ||||
| Tử Tôn | Sửu Thổ | × | Phụ Mẫu · Dần Mộc | |||
| Phụ Mẫu | Mão Mộc |
Ở đây ta không xét đây là quẻ Thuần hóa Quẻ thuần, mà xét về hai hào động để làm rõ về mặt kỹ thuật, còn với thực tế đối với quẻ thế này, ta sẽ xét đây là Thuần Ly hóa Thuần Càn, còn ở đây ta đang lưu ý về trường hợp kỹ thuật xét điểm trong Lưỡng hiện. Ở đây ta có hai hào Sửu và Mùi xung nhau, nhưng Sửu hóa khắc, quan hệ giữa hào biến và hào động ưu tiên hơn quan hệ giữa hai hào Động với nhau, nên ta giữ điểm của hào Khắc không lấy Hợp. Vậy tại đây ta có các điểm Ứng kỳ bao gồm Ngọ Mùi đối với hào Mùi Thổ, trường hợp thành, và Dần Mộc đối với hào Sửu Thổ, trường hợp bại. Vậy giả sử thời điểm hỏi đang là Tý, Tý gần Dần hơn nên từ Tý đến Dần việc hỏi hỏng, từ Dần trở đi thì thành, ngược lại giả sử hỏi tại Thìn, thì từ Thìn đến Ngọ là thành, từ Ngọ trở đi là hỏng.
Dụng thần tại hào biến
Ta vừa đi qua Mục Lưỡng Hiện, nhưng trong quẻ có phải chỉ giới hạn có 2 Dụng thần hay không? Chắc chắn không phải thế, tối đa mỗi quẻ sẽ có đến 4 Dụng thần bao gồm cả Dụng thần tại hào Biến của hào Động, nhưng công thức tại đây là:
Quẻ có hào biến làm Dụng thần, thì Dụng thần hào Biến làm điểm Đột biến, Dụng thần quẻ Chánh là kết quả xuyên suốt sự kiện trừ thời điểm đột biến đối với những việc xảy ra liên tục, còn với sự kiện xảy ra một lần, ta lấy hào Biến làm kết quả và điểm Ứng kỳ.
Ví dụ: Ngày Đinh Mão, tháng Tý:
| Huynh Đệ | Mão Mộc | |||||
| Tử Tôn | Tỵ Hỏa | |||||
| Thê Tài | Mùi Thổ | Ứng | ||||
| Thê Tài | Thìn Thổ | |||||
| Huynh Đệ | Dần Mộc | ○ | Thê Tài · Sửu Thổ | |||
| Phụ Mẫu | Tý Thủy | Thế |
Với quẻ này hỏi về Tài, thì Tài tại quẻ Chánh suy, chỉ có tại Biến mặc định Vượng, kết quả của việc này là cả tháng bán lỗ, lỗ rất to vì Huynh tức Kỵ thần động, duy chỉ có ngày Sửu bán đông đột biến, ngày thường 5 triệu, ngày Sửu trong tháng 30 triệu, cái này là thực tế.
Quẻ này để giải đầy đủ như sau, Dụng thần Thê Tài bị Nhật khắc không được Nguyệt nên tính Suy, báo hiệu tiềm năng, nghĩa là thị trường đang làm đã nhỏ lại, không còn chỗ cho mình nữa, lại khắc Thế, nên bản thân mệt mỏi, áp lực về chuyện kinh doanh, may hào Thế Vượng nên chỉ mệt mỏi áp lực chứ không sinh ra bệnh hay tai họa, hào Kỵ thần động tiết khí hào Thế, tức bản thân tin sai người mà khiến mọi thứ đã tệ, còn mất nhiều hơn (sau biết đó là bạn nhân viên), người này mình biết, điểm nhận dạng như hào Mộc Dương lâm Câu trần, duy có hào Sửu Thổ Dụng thần tại hào biến báo hiệu điểm đột biến trong việc kinh doanh tại thời điểm Sửu.
Đối với những quẻ như thế này, để giải quyết, việc đầu tiên ta phải tìm được Huynh Đệ là ai, vì đây là người mình biết, tối thiểu vậy vì nằm tại Nội quái, sau đó cắt bên này đi, và thay mặt hàng, sau đó xem lại quẻ mới thì may ra mới có thể thành công được.
Xem thêm
- Dụng thần, Phục thần
- Ứng kỳ, Tuần không, Nguyệt phá
- Lục thần (lục thú)
- Lục hợp — lục xung hóa lục hợp