Bốc Dịch Vô Tranh

Nền tảng Lục Hào

Nguyên thần

Tác giả · Cập nhật

Nguyên thần là gì? Nguyên thần là hào sinh Dụng thần xét theo ngũ hành, chỉ được xét khi Nguyên thần động, trì Thế hoặc nằm tại hào biến.

Về mặt khái niệm, Nguyên thần là hào sinh Dụng thần xét theo ngũ hành, ví dụ nếu Dụng thần hành Hỏa thì Nguyên thần hành Mộc. Cách tính này là cố định.

Khi nào xét Nguyên thần

Nguyên thần chỉ được xét đến khi Nguyên thần động, hoặc trì Thế hoặc nằm tại hào biến, ngoài ra các trường hợp khác không cần xét đến.

Điều kiện để Nguyên thần dùng được

Nguyên thần muốn dùng được cần thỏa mãn các yếu tố sau:

  • Nguyên thần phải từ hưu tù trở lên (tức Hưu tù, Vượng, Quá vượng)
  • Suy được hào động hưu tù trở lên sinh cho
  • Không hóa khắc
  • Không nhập Mộ tại Tam Mộ tức Nhập Mộ tại Nhật, tại hào động, tại hào Biến
  • Không bị hào động khác khắc
  • Không bị Nhật Nguyệt tương hợp, không bị hào biến tương hợp
  • Không Hưu mà hóa tuyệt
  • Không Hưu mà hóa tiết khí
  • Không hợp với một hào động khác

Trong kỹ thuật dùng Nguyên thần cần lưu ý rằng, không như Kỵ thần, Nguyên thần dù vượng mà Mộ, hóa hợp, Hưu hóa tuyệt, hóa Khắc thì dù Dụng thần có vượng mấy, việc hỏi cũng sẽ hỏng, chỉ duy nhất trong trường hợp một sự việc chắc chắn xảy ra, thì Ứng kỳ vào lúc xung Mộ, xung Hợp, trường sinh hào Hưu, xung mất hào biến khắc hào Nguyên thần động là thời điểm việc cần hỏi sẽ thành.

Nguyên thần động báo hiệu gì

Nguyên thần động thường báo hiệu về những yếu tố giúp đỡ hào Dụng thần, bao gồm cả sự kiện và con người, tính lâu dài của sự giúp đỡ này nằm ở sự vượng suy của hào Nguyên thần, duy nhất trong trường hợp hào Nguyên thần hóa Tuyệt sẽ báo yếu tố giúp đỡ mình sẽ kết thúc sớm bất kể vượng mấy.

Ngoài ra, Nguyên thần động trong việc hỏi tuổi thọ cũng xem như đại kỵ, dù Dụng thần có vượng, thì đến lúc xung mất Nguyên thần cũng là lúc tuổi trời kết thúc (Ứng với Năm nếu Dụng thần vượng).

Sự khác nhau với Dụng thần suy, Kỵ thần động

Sự khác nhau giữa các trường hợp Nguyên thần động mà hóa hợp, hóa Mộ, hóa khắc so với Dụng thần suy hay Kỵ thần động như sau:

  • Với trường hợp Nguyên thần bị hợp, hóa khắc, Mộ…. là báo hiệu việc sự giúp đỡ bị gián đoạn mà hỏng việc.
  • Với trường hợp Dụng thần suy, thì tự nội tại sự việc hỏi đến đã hỏng đi mất, không hi vọng gì
  • Với trường hợp Kỵ thần động, là có người hoặc yếu tố trực tiếp phá hoại mà hỏng việc.
  • Với trường hợp Kỵ thần trì Thế, là tự bản thân đi sai đường, và tại đây, ta cần làm rõ vì sao mà sai? Với trường hợp cơ bản, nghĩa là không có hào động khác can thiệp, sự sai nếu Dụng thần vượng bao gồm:
    • Hỏa là bản thân nóng vội
    • Thủy là quá dễ chịu
    • Mộc là nói quá vấn đề
    • Kim là quá bảo thủ
    • Thổ là quá chậm chạp
    Muốn sửa chữa sai lầm do tự bản thân gây ra như thế này, chỉ có thể đi ngược lại so với vấn đề mắc phải, ví dụ như Hỏa Kỵ thần trì Thế thì chậm lại mà thành, và tương tự vậy.

Xem thêm

Khái niệm liên quan

Thử áp dụng vào một quẻ thật: An quẻ Lục Hào Gieo quẻ Mai Hoa Các khái niệm khác