Nền tảng Lục Hào
Hào Thế
Tác giả Vi Nhật Sơn · Cập nhật
Hào Thế là gì? Hào Thế là hào có (Thế) phía sau, đại diện cho bản thân mình trong sự kiện. Quan hệ Thế – Dụng cho biết năng lực, hướng đi và áp lực của mình trong việc hỏi.
Hào Thế, là hào có (Thế) phía sau, đại diện cho bản thân mình trong sự kiện. Bước tiếp theo xác định hào Thế, và tương quan hào Thế với Dụng thần.
Hào Thế đại diện cho điều gì
Nếu về tranh chấp, Thế là mình, Ứng là Dụng thần, theo thực tế, nếu mình mạnh người yếu thì mình thắng, mình sinh cho người thì tốn, người khắc mình thì thiệt. Xem việc cũng thế, nếu hào Thế suy, bản thân mình cũng đắm đuối, hào Thế vượng, dù bất thành, thì mình cũng ổn.
Hào Thế, nếu khắc Dụng thần, thì bản thân mình đi sai hướng, hay có thể xem như không có khả năng làm được việc đó nếu đi theo hướng hiện tại. Năng lực bản thân biểu thị qua bản chất Vượng Suy của hào Thế. Nếu bị Dụng khắc, sẽ áp lực. Để dễ hình dung, thì cứ xem Dụng tương đương với người khác, người khác khắc mình, nghĩa là người khác gây bất lợi, bản thân sẽ mệt….
Hào Thế rất quan trọng, nhưng luôn nhớ rằng hào Thế trong quẻ đang xem đại diện cho bản thân chúng ta trong sự việc chúng ta đang hỏi, chứ không đại diện cho tất cả mọi việc.
Nếu hào Thế Suy hay Vô căn, bản thân phải hiểu ngay mình sẽ nguy hiểm trong việc này. Cách đơn giản nhất để thoát khỏi sự nguy hiểm đó chính là thay đổi cách hành động, hay cách thức tham gia sự việc và xem lại một quẻ mới để biết sự việc có ổn hay không.
Khi nào không xét hào Thế
Nhưng không phải ta sẽ luôn sử dụng hào Thế: Đối với các trường hợp không hỏi cho bản thân mình, ta chỉ xét Dụng không xét Thế. Xem cho người khác, xem Dụng để biểu đạt kết quả sự việc. Sự bất tiện của việc không tự hỏi nằm ở đây, đó là ta chỉ biết được sự thành bại của sự việc, nhưng không biết được ảnh hưởng đến người được hỏi bởi sự việc này như thế nào, từ đó mà không thể biết các sự cố phát sinh trong quá trình sự kiện xảy ra đối với người đó hay dở ra sao mà biết để tránh.
Dễ nhất, trừ trường hợp Thế khắc Dụng, thì Dụng vượng là việc thành, trừ một số trường hợp đặc biệt như hỏi giấy tờ thi cử, hỏi nhà ở, cần đồng thời Vượng.
Quan hệ Thế – Dụng
Thế đại diện cho bản thân, Dụng cho vấn đề hỏi, việc chọn Dụng thế nào những bài trước đã nói, bài này bàn về mối tương quan Dụng – Thế trong quẻ: Thế lâm Kỵ thần, Nguyên thần, Tiết thần hay Cừu thần.
Thế lâm Kỵ thần
Thế lâm Kỵ thần:
| Thế | Dụng | |
|---|---|---|
| Vượng | Suy | bản thân có năng lực nhưng không hợp thời |
| Suy | Vượng | bản thân vừa bất tài lại còn sai đường cho một việc có tiềm năng |
| Vượng | Vượng | năng lực có, tiềm năng có nhưng sai đường |
| Suy | Suy | đâm đầu vào đá |
Đấy là trường hợp thông thường, ngoài ra một số tình huống đặc biệt như:
- Thế lâm Kỵ nhập mộ, Dụng vượng, vòng lặp địa chi chưa đến chi xung Mộ, việc sẽ thành nhưng trong bóng tối, nôm na gặp may.
- Thế lâm kỵ, quá vượng, trước ngày đến chi xung Mộ việc cũng thành nếu Dụng vượng, nhưng bản thân quá tải chẳng biết đi đường nào, như người đi lạc trong rừng, vô tình thoát được trước khi chết.
- Tình huống khác là Thế không, trước lúc xung trực việc cũng sẽ thành nếu Dụng vượng, nhưng khi xem công danh, việc này thường báo nghe tin được việc sau đấy gặp hoạ mà chết, ứng lúc thực xung không.
Trong tất cả những trường hợp cá biệt đều cần Dụng vượng, duy có trường hợp Thế hoá Dụng thì không cần, nhưng vẫn có cá biệt ở đây cho vấn đề Phụ và Quan. Thế hoá Quan là tai hoạ vì hoá Quỷ nhưng vẫn sẽ thành trước, Thế hoá Phụ nếu không được tổn thất mà ra việc thì ám chỉ việc tạm thời, cứ tuỳ tình huống mà xét. Những trường hợp không liệt kê, nghĩa là không tồn tại, ví dụ Thế phá hay Thế tuyệt.
Ngoài ra phải để ý, nếu Dụng động hoá sinh không phải là được trợ mà thành, mà lúc đấy phải biết đấy là Cừu Thế động, là hoạ không phải là phúc. Vậy trong trường hợp này sửa ra sao?
Vì sao sai đường: tính chất Kỵ thần theo ngũ hành
Đầu tiên, muốn sửa sai, phải hiểu vì sao ta sai?
| Kỵ tại | |
|---|---|
| Kim | Bản thân cứng nhắc, cứng rắn, bảo thủ quá |
| Thủy | Bản thân mềm yếu, dễ chịu bề ngoài quá |
| Mộc | Bản thân bay bổng, bề ngoài hiền quá |
| Hỏa | Bản thân vội vàng, nóng nảy quá |
| Thổ | Bản thân chậm quá, không nắm bắt đúng câu chuyện |
Cách sửa khi Kỵ thần trì Thế
Vậy, để sửa được con đường, ta đừng mong điều kỳ diệu như trên trời rơi xuống, mà phải thay đổi tự bản chất, vì bản thân ta, chính là hào Thế trong câu chuyện, cách cư xử ta, cũng tương ứng với hào Thế trong câu chuyện. Vì thế, ta chuyển bản thân thành hào Tiết, nghĩa là cư xử như tiết thần của hào Thế tức Nguyên thần của hào Dụng thần, ví dụ từ Kim ta chuyển thành cư xử như Thủy:
| Cư xử như | |
|---|---|
| Thủy | Khéo léo, mềm mỏng hơn |
| Kim | Cứng rắn, bảo thủ hơn |
| Hỏa | Nhanh chóng, quyết đoán hơn |
| Thổ | Chậm rãi, kỹ càng hơn |
| Mộc | Tỏ ra vô hại, hiền lành hơn |
Đó là cách chữa đơn giản nhất đối với trường hợp Kỵ thần trì Thế, xin lưu ý. Để chắc chắn hơn, sau khi lựa chọn thay đổi thái độ, ta kiểm tra lại lần nữa bằng quẻ mới.
Thế lâm Nguyên thần
Thế lâm Nguyên lại xét vượng suy, Dụng vượng Thế suy thì bỏ công bỏ sức mệt mỏi mà ra việc, nếu về giấy tờ thì vứt đi, nếu Dụng động thì tai hoạ luỵ vì việc hỏi, vì sao thế? Đơn giản vì Dụng động thì tiết khí Thế, tiền đã hiếm còn phải mang cho người thì hỏng. Dụng suy thì việc hỏng, Thế vượng mấy cũng chỉ tổn công vô ích. Thế suy nữa thì ăn mày không đòi xôi gấc được.
Trường hợp này cần lưu ý Thế suy Dụng vượng, hào động sinh Thế, lúc đấy không phải hào động trợ Thế gì mà là chuyện “Cốc mò cò xơi”, nhớ thế, vì sao? Vì khi đấy xem như Kỵ động, chẳng hay ho gì. Duy có trường hợp Kỵ động hoá Dụng, khi đấy nhường người mà ra việc, vì sao? Vì hào động không khắc hào biến, Dụng lại nằm quẻ Ngoại, nên không mang tính chất thực tại.
Có một trường hợp đặc biệt khác là Thế lâm Dụng bị phá, nhưng hào Dụng khác lại động, sẽ được hiểu rằng việc mình hỏi bất thành, đầu mối nằm nơi khác, ở đâu thì tuỳ tình huống mà xét. Hoá Dụng mà suy, xem như tai hoạ, “ăn một bát cháo chạy ba quãng đồng”.
Thế lâm Tiết thần
Thế lâm Tiết, Dụng vượng Thế suy thì tiền rơi vào đầu, Dụng vượng Thế vượng thì đã hay còn hên, Dụng suy thì tưởng thế thôi nhưng vứt đi, nhưng tình huống này sẽ xuất hiện sự hao hụt trong việc cần hỏi, vì sao? Vì Tiết Thế tiết khí Dụng, do may quá mà coi thường mọi thứ.
Tình huống này có sự đặc biệt ở Tài, nếu Tài Dụng thì Thế Quan, lúc này Thế động hoá Tử, phải xem người hỏi thế nào? Thế nào là thế nào? Là đang tỉnh táo không, có đang lo quá hay không? Đang lo thì xem như Tử khắc Quỷ bên thân, dù tài vượng hay không thì tại thời Tử cũng sẽ gặp may mà vượt qua được. Nếu bình thường thì vớ vẩn lại gặp hoạ, có con thì khả năng con mất, đang kinh doanh thì thằng làm chung nó đấm vào mặt, nên đề phòng.
Các trường hợp khác cho việc Thế động hoá khắc luôn luôn báo hiệu việc nguy hiểm, vì Dịch báo gần không báo xa, mai chết thì mốt trúng số ích gì?
Lưu ý ở đây, phép xem Dịch là phép xem vệ tinh chung quanh vật chủ. Nghĩa là tại một hiện tượng, các hào khác xoay quanh Dụng thần, không phải mang ý nghĩa riêng trừ trường hợp đặc biệt. Nghĩa là hỏi Phụ Dụng mà Huynh Thế, không phải mất tiền vì Huynh là Kỵ của Tài, lâu lâu cũng mất tiền thật, vì Huynh tiết Phụ nhưng đó không phải là trường hợp tổng quát, đừng vớ vẩn thế.
Thế lâm Cừu thần
Thế lâm Cừu, Dụng khắc Thế, kiểu gì cũng chịu áp lực từ việc hỏi, Dụng vượng Thế vượng, việc thành nhưng không có gốc, trong quá trình đến lúc thành thì ôi thôi tỷ việc, không gốc vì Cừu Thế khắc Nguyên, dù động hay không thì vẫn khắc Nguyên, Thế là bản chất mình còn hào động là yếu tố tác động, luôn nhớ thế, Thế vượng Dụng suy thì kiên cường chống trả nhưng chẳng tới đâu.
Xem thêm
- Dụng thần — hào đại diện cho việc được hỏi
- Hào Ứng — hào đại diện cho người hoặc phía bên kia
- Nguyên thần, Kỵ thần, Cừu thần
- Tuần không, Nguyệt phá, Mộ