Thời gian và lịch
Việc gần – việc xa
Tác giả Vi Nhật Sơn · Cập nhật
Việc gần – việc xa là gì? Việc gần – việc xa: việc gần hay xa trong Dịch quy chiếu trên 4 trục thời gian Giờ – Ngày – Tháng – Năm; việc gần tính Giờ và Ngày, việc xa tính Tháng và Năm.
Việc gần – việc xa: việc gần hay xa trong Dịch được quy chiếu dựa trên 4 trục về thời gian bao gồm: Giờ – Ngày – Tháng – Năm.
Bốn quy chiếu thời gian
Việc xa gần, là gom chung tất cả các trạng thái phụ thuộc vào quy chiếu thời gian, mà việc gần bản chất khác việc xa.
Về nguyên tắc, ta có bốn quy chiếu thời gian bao gồm: Giờ – Ngày – Tháng – Năm, thì việc gần được mặc định là những sự kiện tính trong hai quy chiếu Giờ và Ngày, việc xa sẽ tính theo hai quy chiếu Tháng và Năm.
Các trường hợp khác nhau giữa gần và xa
Sự khác nhau của hai quy chiếu này sẽ được tính trên một số trường hợp sau:
- Hưu
- Tiến thần với hào Động suy
- Thoái thần với hào Động vượng
- Hào biến Hưu khắc hào Động vượng
- Sự việc không xác định thời gian với Dụng Vượng bị Nguyệt khắc
Trong các trường hợp trên đều có điểm chung, sẽ có sự thay đổi trạng thái đối với quy mô sự việc.
Quy chiếu Xa – Gần và Nguyên tắc Điểm bật
Quy chiếu Xa – Gần khác hẳn với Nguyên tắc Điểm bật, tuy cùng phân biệt bản chất hào động khác nhau trên cùng một trạng thái. Nguyên tắc điểm bật chia chung một hệ quy chiếu thành hai giai đoạn, quy chiếu xa gần phân biệt từng quy chiếu thời gian khác nhau để quyết định bản chất của hào. Sự giống cơ bản như vậy, nhưng về từng tính chất của trạng thái, sẽ có những sự khác nhau.
Với Hưu
Với Hưu, với những việc mang tính sự kiện, ta chia thành hai mảng xa và gần, với xa tính như Vượng mà gần tính là Suy, nhưng với trường hợp Hưu Động, sự tác động đến các trường hợp Tiết, Sinh, Cừu tương tự các trường hợp hào Vượng khác, nhưng với tình huống Kỵ Hưu Dụng Vượng, tức về bản chất, hào Kỵ thần động yếu hơn hào Dụng, ta tính hào Kỵ này không đủ sức khắc Dụng, khi đó ta bỏ qua tính chất gần – xa này, chỉ tính rằng trước thời điểm Ứng kỳ của việc hoại, việc phá hoại luôn xảy ra, nếu là hào khắc hào Thế là bất lợi cho bản thân, khi đó thời điểm thành công của sự việc không nằm ở Ứng kỳ hào Dụng mà nằm tại thời điểm xung hào Hưu này, khi đó bất kể nằm tại Giờ – Ngày – Tháng – Năm, đều tính hào Hưu này mất đi, và sự việc thành công.
Để diễn giải cho tình huống này, thì sự kiện này trước lúc thành công luôn gặp những bất lợi, trở ngại với đặc điểm của hào Hưu này, để biết là ai thì cứ tra cứu các đặc điểm của hào so với Ngũ hành và Lục thần mà biết, từ đó, nếu muốn tránh, ta cứ tránh trước. Lưu ý trong trường hợp này dù có tránh trước hay không, kết quả cũng sẽ thành công. Nếu có thể dập tắt được từ ban đầu thì tốt, nếu không ta cứ quy chiếu về Nội – Ngoại mà làm ngược lại sẽ tránh được.
Can thiệp bằng yếu tố thuộc về vật lý
Tại đây, chúng ta bắt đầu làm rõ về chuyện can thiệp bằng yếu tố thuộc về vật lý thông qua không gian, thời gian và con người đầy đủ.
Sự can thiệp ở đây hiểu là việc thay đổi hoặc sẽ thay đổi, hoặc sẽ giải quyết một mối nguy cơ xuất hiện, để kết quả cuối cùng của sự kiện không bất lợi so với ta mưu cầu nữa. Ví dụ, ta biết rằng chuyến đi này nguy hiểm, thì dễ nhất là không đi. Nên bắt buộc phải đi, không gì ngoài việc biết được bị nạn lúc nào, và nạn này từ đâu. Khi đó, đến thời điểm, ta tránh các vị trí và con người cùng các yếu tố có thể gây ra sự bất lợi này mà thoát nạn.
Câu hỏi đặt ra rằng việc ta biết có thực sự là tương lai không? Vì trong môi trường tương tự, hoặc người giống người, có thật cái ta tránh là điều gây hại chăng? Về quy chiếu Nội – Ngoại, đủ rộng để thoát khỏi câu hỏi này. Với Nội là khoảng không gian gần, Ngoại là khoảng không gian xa. Từ đó ta cứ quy chiếu so với tính chất sự việc hỏi, như đi xa, thì trong khoảng không gian sinh hoạt cố định tính là gần, mà khoảng ngoài tính là xa, từ đó những sự việc khác từ đó mà xét.
Xem thêm
- Vượng suy — Hưu tính như vượng hay suy theo việc gần, việc xa
- Nhật thần, Nguyệt lệnh (Nhật – Nguyệt), Ứng kỳ
- Tiến thần, Thoái thần
- Nội quái – Ngoại quái