Thời gian và lịch
Ám động
Tác giả Vi Nhật Sơn · Cập nhật
Ám động là gì? Ám động là hào tĩnh, vượng bị Nhật xung thành động; cần đồng thời 3 yếu tố: hào tĩnh, vượng hoặc quá vượng, bị Nhật xung.
Về khái niệm, Ám động là hào tĩnh, Vượng bị Nhật xung thành động.
Ba yếu tố của hào ám động
Vậy để xác định một hào có phải ám động hay không, ta cần đồng thời 3 yếu tố sau, nếu khuyết 1 trong 3 sẽ không được tính là ám động:
Khi đó hào này gọi là hào Ám động.
Ví dụ: Ngày Canh Thìn, tháng Dần:
| Phụ Mẫu | Tuất Thổ | Thế | ||
| Huynh Đệ | Thân Kim | |||
| Quan Quỷ | Ngọ Hỏa | |||
| Phụ Mẫu | Thìn Thổ | Ứng | ||
| Thê Tài | Dần Mộc | |||
| Tử Tôn | Tý Thủy |
Hào Tuất Thổ Phụ Mẫu lâm Nhật nên tính vượng, lại được Nhật xung nên thành ám động.
Ám động khác minh động thế nào
Hào ám động xem như một hào động thông thường, nhưng sẽ khác hào động thông thường (Hay còn gọi là Minh động) ở chỗ, sẽ không có hào biến.
Hào ám động sẽ tính như một hào động thông thường, và thêm việc vượng, nên sẽ tác động trực tiếp đến các hào khác trong quẻ mà không cần xét lại Vượng suy.
Ngoài ra, hào ám động còn báo một sự việc hiện tại đang xảy ra khi làm hào động, ví dụ: Quẻ Càn xem ngày Tý tháng Dần, thì nếu Phụ Mẫu làm Dụng thần, sẽ là hiện tại ngay thời điểm hỏi có người giúp đỡ về việc phụ mẫu.
Ứng kỳ của hào ám động
Về tính ứng kỳ của hào Ám động, trong những sự kiện gần thì ứng trong ngày hỏi (Lưu ý không ứng vào giờ), nếu xa sẽ là thời điểm trực, hợp của hào ám động như một hào động thông thường.
Ví dụ: Ngày Bính Thìn, tháng Dần, xem về việc thi cử:
| Phụ Mẫu | Tuất Thổ | |||
| Huynh Đệ | Thân Kim | Ứng | ||
| Quan Quỷ | Ngọ Hỏa | |||
| Huynh Đệ | Thân Kim | |||
| Quan Quỷ | Ngọ Hỏa | Thế | ||
| Phụ Mẫu | Thìn Thổ |
Xem về Thi cử lấy Phụ Mẫu làm Dụng thần, cần cả Dụng thần và Thế đều vượng, Dụng thần lâm Nhật tính vượng, được Nhật xung thành Ám động. Hào Thế được Nguyệt sinh nên tính vượng. Kết quả trong ngày có tin đậu công chức.
Lưu ý về hào ám động
Một lưu ý về hào Ám động: Trong trường hợp trong quẻ không có Dụng thần, khi đó nếu lấy Nguyệt làm Dụng thần, mà Nhật xung Nguyệt này, ta cũng xem hào lấy Nguyệt này ám động. Với trường hợp Phục thần Vượng mà Phi thần bị mất vì lý do nào đó, Nhật xung, khi đó cũng tính hào Phục thần này ám động. Và cả hai trường hợp này chỉ xảy ra khi Dụng thần không hiện trong quẻ.
Với trường hợp hào Ám động bị hợp bởi Nguyệt hay hào Biến, ta vẫn cần chờ thời điểm xung mất mối hợp của hào Ám động này là thời điểm Ứng kỳ. Nhưng với trường hợp hào Động khác hợp hào Ám động, ta sẽ không tính hai hào hợp nhau, bởi nguyên tắc hai hào bị hợp với nhau, chỉ cần xung một trong hai là được.