Bốc Dịch Vô Tranh

Luận theo việc

Nhân mệnh (quẻ mệnh)

Tác giả · Cập nhật

Nhân mệnh (quẻ mệnh) là gì? Nhân mệnh (quẻ mệnh): quẻ trọn đời lấy như quẻ theo giờ, vào ngày tháng năm giờ sinh, thay Chi năm bằng Can năm; xem Đa Dụng, từng lục thân đều có ý nghĩa.

Quẻ trọn đời (quẻ mệnh) cách lấy giống như quẻ theo giờ, lấy vào ngày tháng năm giờ sinh, chỉ khác Chi năm, sẽ thay bằng Can năm, ví dụ: Bính Ngọ, Bính thứ tự là 3, không lấy Ngọ số thứ tự là 7.

Từ đoạn này, là phần bổ sung, mở rộng, và kết nối những gì từng viết.

Cách xem quẻ trọn đời

Trọn đời, cách xem là xem Đa Dụng, nhưng không xem đồng thời, mà từng Thần trong lục Thân đều có ý nghĩa, xem như từng thần là Dụng thần, mà xem quan hệ Thế Dụng hào động để xác quyết các mảng, trừ trường hợp đặc biệt đã hình thành Quan cục, hoặc Tài cục.

Tài cục — người phát về tiền

Tài cục, nghĩa là người phát to về tiền khi Tài Tử đều hiện, Tài vượng, Tử cũng nên vượng, vì sao Tử cũng nên vượng, là biểu thị cho người giữ tiền được, các cầu thủ PL hay NBA lắm người về già tứ cố vô thân, ngủ vỉa hè dù đỉnh cao kiếm tiền một tháng bằng người khác kiếm một đời, là ví dụ cho Tử suy Tài vượng. Nhưng quan trọng phải sinh Thế, hợp Thế, hoặc Thế sinh Tài. Với từng vị trí mà biết được người này với tiền như nào.

Giả thử Tài trì Thế, dù vượng cùng Tử thì cả đời ám ảnh vì tiền, dù giàu cách mấy, nếu đàn ông kèm theo sợ vợ, vì Tài trong lục nhân mệnh còn đại diện cho vợ. Tài trì Thế với đàn ông, kiểu nào cũng sợ vợ, dù vượng hay suy, bao năm chưa sai một. Tử vượng Tài vượng, đều tĩnh là điềm cả đời bỏ công ra chơi với tiền, nhưng có, duy nếu Tài động, thì tiền cuốn mình theo, thế cũng chẳng hay gì, nhưng với góc nhìn chủ quan người đấy, sẽ thấy việc chơi với tiền vui. Nếu Tài vượng Tử suy, Tử trì Thế, tĩnh, là tượng có tiền nhưng người kém quá, nếu vô căn sống chẳng lâu, nếu Tài động thì nếu không kiềm chế, sẽ chết vì tiền cuốn mình đi. Tử vượng Tài suy, Tử Thế, tiền quan trọng chăng, hiềm chuyện Huynh động, cả đời bị người lừa mà mất tiền, nếu chỉ tĩnh không, mà chẳng ai động sinh khắc, cứ nhởn nhơ thôi, vì làm Quan thì cũng tự bỏ. Nếu Tài động, lâu lâu tiền cũng cuốn mình theo, Quan động hay chán đời, vì Cừu động. Tử động Tài suy, Tài Thế, xem như cuộc đời hay được giúp đỡ, tùy theo ngoại nội mà biết trong nhà ngoài ngõ, nhưng cuối đời cũng được con thương, nội ngoại mà biết con xa gần. Người Tài Thế, có những sự bất hạnh riêng, nếu Phụ Huynh đều hiện, thì cuộc đời cô độc trong gia đình mình, khắc Phụ, mà Huynh khắc mình. Không hiện không tính.

Quẻ nhân mệnh có điều thú vị rằng, hiện mới tính, còn không, sẽ lướt qua đời. Ví như có những người anh em như thể tay chân, nhưng cũng có những người như bóng mây ngang đời, chẳng sao. Hào động cũng nên lưu ý, ví như Huynh đệ sinh Thế, tuy gần anh gần em, nhưng cũng là thần khắc Tài, nên người giúp mình, cũng là người hại mình. Đề phòng. Có trường hợp cũng đáng lưu ý là hào hợp Thế. Ví dụ quẻ Tiết, Thế khắc Phụ nhưng Thế cũng hợp Phụ, xem như việc tíu tít sớm ngày với phụ huynh nhưng cũng có nhưng điều không vừa ý. Nhân vô thập toàn, ai cũng có lúc sai, chẳng ai đúng mãi, kể cả thánh nhân, nói chi đến bố mẹ. Nếu con người không sai, thì thành chủ nhân vũ trụ từ lâu. Nếu Tử vượng gia Thanh Long trì Thế, thì tiền, chỉ là trục để quy chiếu những khái niệm khác, không cần quan tâm. Nếu thông luôn qua chuyện vợ chuyện chồng, Tử sinh Thế, nếu là đàn ông thì tuy sợ vợ, nhưng cũng lắm người yêu, có thể vì giàu, có thể vì này vì nọ, nhưng cũng là người đào hoa. Nếu Tử phục dưới Thế lâm Tài, người biết suy tính trước sau, tùy theo vượng suy Tử mà biết tính xa hay tính gần, nếu Quỷ phục tức Tiết là người lo nhiều hơn nghĩ. Nếu Tài tự vượng trì Thế, một tay xây cơ đồ, chẳng nhờ ai, cơ mà sẽ cô đơn. Quan hệ xã hội, xem Ứng sẽ thấy. Ứng vượng suy là bạn nhiều ít, tùy theo sinh hay khắc Thế mà biết thế giới này ghét hay thương mình. Người Tài Tử vượng, kinh doanh, hoặc nếu chưa có điều kiện thì nên học kinh doanh, theo cách mình, đừng theo ai cả.

Những sự khác trong Tài-Phúc, có thể từ đấy mà suy ra cả.

Công danh trong quẻ mệnh

Tiền là một, Công Danh là hai, đời người chỉ bấy nhiêu. Người phát về Danh để biết được phải hội đủ 2 cục gồm ba yếu tố mới xem là toàn mỹ trên mảng Công Danh bao gồm:

  • Hoặc Quan, Phụ Thế đồng vượng
  • Tài Quan Thế đồng vượng

Cả hai trường hợp trên, đều tuyệt đối tránh Kỵ thần trì Thế. Giả như Tử Thế mà Quan to, thì cũng nhảy việc liên tục mà dù công danh lớn, lý do vì chán việc, nếu Thế vượng thì do tốt quá mà chán, Thế suy thì nản quá mà chán. Những người Tử Thế Quan vượng, chỉ khuyên đi theo đường công danh nếu Tử lâm Huyền vũ, mà Tài suy, còn nếu Tử lâm Long thì nên lánh đời, còn Tài vượng thì rơi vào cục Tài vượng Thế vượng Tử vượng, kinh doanh chắc chắn đủ chơi với đời.

Trường hợp một thường là người đi lên từ đôi chân mình, khi đó Phụ đại diện cho lượng kiến thức chuyên môn, Quan đại diện cho độ lớn chức vụ trong nhãn quan người đấy, muốn biết vị trí xem thêm vị trí hào mà biết, ví như hào 5 là đồ to trong khối đấy, Thế đại diện cho sự thoải mái với công việc. Nếu Thế lâm Quan thì lại như bài Thế – Dụng từng nói, bản thân người đấy sẽ bị ám ảnh bởi việc công danh. Nhưng điều đặc biệt hơn với quẻ Nhân mệnh, các yếu tố đều được xét, người Quan Thế thì bị Tử khắc, sẽ bất hòa con cháu hoặc con cháu sẽ không vừa ý với mình, lại khắc Huynh đệ, anh em cũng chẳng hòa thuận, nhưng vì sinh Phụ nên hiếu kinh cha mẹ (tùy vượng suy), nhưng các yếu tố vừa nói chỉ được xét đến khi các hào xuất hiện, nếu không xuất hiện, hoặc là sự xuất hiện của những người được biểu hiện trong đấy nhạt nhòa trong cuộc đời người hỏi, hoặc việc Danh cực đoan, các yếu tố khác bỏ qua. Phụ vượng Quan vượng, Quan tại hào 5 thì công danh cả đời không phải nghĩ, nếu Thế lại vượng lâm Thanh Long thì cuộc đời cứ thế mà tiến lên, nhưng nếu Thế suy thì vẫn chưa vừa ý, Thế vô căn thì “Nhón chân thì không đứng vững”, Thế suy lại gia Huyền vũ thì “Muốn, muốn nữa, muốn mãi”, người như Thao Thiết, chỉ muốn nuốt cả trời đất vào lòng. Nếu Phụ vượng, Quan suy, Thế vượng là người sinh bất phùng thời, một bụng đầy chữ nhưng cả đời chỉ làm chức mọn, nhưng có vui hay không, phải xem đến Thế, nhưng nếu Thế tại Tài thì cả đời từ chối cái mình biết, hay còn gọi là xét lại, mà cũng vì tiền thôi. Còn nếu tại Tử, thì Phụ khắc Tử, lại bị cái mình biết đè lại mình, kiến thức cũ, là các mảnh ghép để tạo nên thế giới riêng mỗi người, đừng xem đấy như cả thế giới. Có câu chuyện rằng: “Sách vở như đờm dãi Thánh Nhân” trong Lã Thị Xuân Thu, nên lưu ý thế, ví như những người từng gặp mình sẽ hiểu, Dịch là cánh cổng đầu tiên để gặp mình, vì sau đấy, mọi người có cần đến Dịch để chơi với cuộc đời nữa đâu. Quan vượng mà Phụ suy, rõ là người cả đời sống bằng may mắn, mọi thứ đều gặp may, nếu Thế Thủy tại Chu tước, là người “Mồm miệng đỡ tay chân”. Nếu lại được hào 5 sinh cho, là tượng biết nói mà được sếp yêu. Vì Phụ suy, nên kiến thức không tương ứng với vị trí. Còn muốn biết bạn đấy có vui với điều đấy không, thì vẫn phải xem Thế. Thế suy mà Quan vượng, Thế sinh Quan thì cả đời lụy việc công danh, nếu Quan động thì lụy công danh mà hết hơi hết sức, Thế nếu vượng thì cũng mệt nhưng sẽ xong, bỏ công mà ra thành quả, còn nếu Quan vô căn mà Thế vượng động sinh, khác nào Dã tràng se cát biển Đông? Nếu Quan Thế suy mà Phụ vượng động, xem như lậm sự học mà đời chẳng vui, “Sách vở là đờm dãi của thánh nhân”, nhớ thế, nếu không tạo ra thế giới của riêng mình, thì cuộc đời chỉ xem như sống giùm người khác, hay tệ hơn, sống giúp người xưa.

Trường hợp thứ hai là cục Tài Quan Thế đều vượng, là người đi lên bằng đồng tiền, mà cũng thu lời qua việc Quan bằng tiền. Việc đấy đúng hay không? Việc quan, cốt lợi những người ở dưới, nếu người làm to lợi mình mà hại chung, thì cũng vứt đi nếu xét theo xã hội, còn nếu lợi mình, mà lợi người, thì có sao chăng? Hình tượng này hay thấy tại Tài Thế Quan vượng, tiền trước đã, bài Thế Dụng có nhắc. Mà thật ra những người Tài trì Thế là những người xem như đáng thương, Huynh khắc, khắc Phụ, nhưng cuộc đời con người, làm gì có ai lưỡng toàn kỳ mỹ? Nhưng nếu Quan trì Thế được Tài sinh cho thì khắc, chỉ thi hay rớt thôi, còn cuộc đời muốn làm gì cũng được, Tài hay Danh đều chơi được, đen hay đỏ cũng chơi tuốt, và chuyện tiền cũng dễ, nhưng chỉ khi Quan gia Thanh Long mới xem là kỳ mỹ với đời người, vì khi đấy, việc mình làm mới làm mình vui. Còn nếu gia Phi xà, thì chuyện tranh đoạt căng thẳng quá, úi dời, thành ra khổ chỉ biết giữ trong lòng mà tâm bệnh đản sinh. Tài Thế thường người chán học, tiền và học, tiền vui, nhưng Quan Thế lại người yêu sự học, vì sinh Phụ. Quý Phụ Huynh cũng nên lưu ý điểm này, khỉ có thể bơi được, nhưng bắt khỉ bơi cả đời thì căng thẳng đấy, nếu bạn này Tài trì Thế thì đừng ép học mà cho bạn ấy chơi với các kiến thức về Tài chính Kinh tế sớm thì sẽ lợi cho tương lai bạn đấy hơn. Chuyện xung quanh, quan trọng gì so với tương lai các bạn đấy? Trường hợp này có một ngoại lệ thú vị, là Tài động hóa Quan hay Quan động hóa Tài đều báo tình huống sẽ dùng tiền mua việc, nếu không khắc thương hay tiết khí Thế thì đấy là bệ phóng cho mỗi người.

Ngoài ra còn có những sự vụ như Tử trì Thế cuộc đời hay gặp may, Quỷ Thế thì hay đen, Quỷ trì Thế hóa Tử thì gặp họa mà qua, hoặc Huynh tại hào biến là anh em khác dòng có, về hỏi bố (chưa trật phát nào). Tử hào biến là con nuôi, Tử hóa Quỷ là có con mất, Phụ trì Thế thì cuộc đời đừng giữ tiền, Phụ Thế thì nếu nghĩ về tiền sẽ thấy mình bất hạnh, Tài xung Thế, tiền hay rơi vào đầu…. Nhưng đấy chẳng phải mấu chốt của cuộc đời con người mà chỉ là những hiện tượng.

Cốt lõi của quẻ Nhân mệnh

Cốt lõi nhất của quẻ Nhân mệnh là, biết rằng tương lai con mình cần gì để cảm thấy vui, để bố mẹ có sự chuẩn bị cho con từ bước đầu tiên cuộc đời, con cái, đôi khi chỉ cần bấy nhiêu.

Về tổng quan “trẻ con về đâu” như đã nói trong những bài trước, chỉ cần xem nhóm Thế – 1 – 2 bao gồm Tử – Tài, Quan – Phụ, Phụ – Huynh, Huynh – Tử mà biết, sự tối ưu của một người sẽ nằm tại đâu, từ đấy tránh việc bắt cá leo cây, ngày dài tháng rộng cá cũng leo được, nhưng thế lại phí mất “ngày dài tháng rộng”, mà cá lại chẳng vui. Nhưng cuộc đời không mấy khi lưỡng toàn kỳ mỹ, đâu nhất nhất đời người sẽ trọn vẹn trong bộ, hôm qua có người hỏi quẻ mệnh nữ sinh Mậu Ngọ, Mùi, Tổn hoá Di, Thế phá, Quan Thoái, Tài suy Nhật xung, ôi thế Tài Danh đều hỏng, sức khoẻ cũng kém mà anh em ly tán bất hoà, Chồng cũng hỏng mất, không phải ai cũng may mắn hơn người.

Sơn Trạch Tổn hóa Sơn Lôi Di Cung Cấn · Thổ
Quan Quỷ Dần Mộc Ứng
Thê Tài Tý Thủy
Huynh Đệ Tuất Thổ
Huynh Đệ Sửu Thổ Thế
Quan Quỷ Mão Mộc Quan Quỷ · Dần Mộc
Phụ Mẫu Tỵ Hỏa

Phép xem một đời sẽ xem trọn 6 hào, 6 hào này biểu kiến cho những điều nổi bật mà bản thân người đấy lưu ý trong đời. Ví như Huynh trì Thế, sẽ quan trọng về anh em, nghĩa anh em là điều sẽ nghĩ, có người Huynh lại vô hiện, không nhất thiết người đấy sẽ không anh em, mà có thể, anh em có như vô hình. Nguyên tắc xem quẻ Nhân mệnh chú trọng về sự xuất hiện của hào và sự xuất hiện của hào sinh hào Thế, hay còn gọi Nguyên thần hào Thế. Xem Lục hào cho mệnh, thứ nhất là tiện, thứ hai biết đâu là điều hữu hình, con chục đứa nhưng vô dụng cũng như không, gần thế. Pháp xem quan hệ nếu tồn tại, nếu Nhật xung hoặc Nguyệt xung, khoan nói vượng suy, sẽ báo ly tán, ly tán không cần hẳn bên ngoài, ly tán trong lòng cũng là chia ly. Phụ xung là bố mẹ, Huynh xung là anh em, Tử xung là con cái, Tài xung là vợ, Quan xung là chồng, cứ thế mà xét, lưu ý nhất không xét Phục, không có thì đừng cố làm gì. Không nhất thiết cuộc đời phải bất hạnh thế, nếu không đủ nhóm, thì có thể theo Chi, một chi nào ổn nếu sinh hợp Thế, có thể xem đấy như cứu cánh cuộc đời. Như người trên, khuyên rằng nên đầu tư cho việc học, nếu thích vẽ thì cứ vẽ, vẽ gì cũng được, vẽ nào nhất thiết phải ở trên giấy, là vì Phụ vượng Nhật sinh Thế tại hoạ, khéo thế mà đi làm vớ vẩn thì phí quá. Không ai là người vô dụng, tài năng đặt đúng chỗ, thế gọi là may mắn, nếu không may thế, tự mình mà thôi.

Trời không mấy khi bạc người, trong tình huống cuối cùng, cứ xem những hào hiện trong quẻ mà xem đâu là hào vượng mà đổi hướng, Tài vượng Tử suy thì kinh doanh độ nhật hoặc chơi những gì thuộc về bước sóng ngắn với tiền thì xem như phong lưu, Tử vượng thì chơi với nghề Y hay nghề cứu người, Quan vượng thì đừng tự chơi, cứ nhờ người khác mà sống, Phụ thì cứ học hành nghiên cứu mà đi đến cuối. Riêng Huynh, sẽ không phải ăn bám anh em hay ăn trộm, mà Huynh sẽ xét các cặp đi kèm gồm Phụ hoặc Tử, bất quá có thể lấy Quan, nhưng sẽ Quan thanh liêm.

Trạng thái hào Thế và tâm lý một đời

Với các tình huống Thế Hưu, có thể đoán biết được trạng thái tâm lý chủ đạo của một đời người hỏi ra sao, bao gồm:

  • Hóa tuyệt, người hay nản chí. Nếu Vượng, hay gặp “Tuyệt xứ phùng sinh”, Nghĩa sẽ có thành tựu liên quan đến hào Thế (Ví dụ: Tài là tiền, nếu Tài vượng hóa Tuyệt tại Thế, thì người luôn đạt trạng thái tiền hết gần sạch rồi lại đầy) nhưng trước khi thành tựu đó xuất hiện, sẽ xuống đáy đã
  • Du Hồn, Quy Hồn, đời người hay lưỡng lự bất quyết
  • Hào Thế lâm Âm, cả đời kỹ tính, nhưng không quyết đoán được
  • Hào Thế Mộ, hay gặp những cuộc bế tắc trong đời, nếu vượng năm Xung Mộ sẽ ổn, còn nếu suy thì cứ luẩn quẩn mãi
  • Nếu hào Thế bị hào động tiết khí, thì hào động đó là gì, bản thân sẽ phải chạy theo đấy mãi, ví dụ: Hào Tử động, khả năng là người tín tâm với tôn giáo và phải theo con mãi, về Tài là người nhọc công với tiền, và chiều vợ, nếu Vượng thì mình vui, việc đó cũng vui, nếu suy thì miễn cưỡng mà theo
  • Nếu hào Thế không, cả đời cứ loay hoay mất phương hướng cho đến năm Xung Trực Thế sẽ tìm ra một con đường mới cho đời mình, khoảng giữa chỉ lầm lũi đi trong đêm
  • Hóa Thoái, người ban đầu hùng hổ, nhưng sau đó cứ xuống dần, Nếu vượng thì chờ năm Xung mới nguy, ví dụ Tý hóa Hợi, sợ năm Ngọ, suy thì mệnh người ngắn ngủi
  • Bị Nhật hay Nguyệt xung, người suy nghĩ cả đời cứ vụn mãi
  • Ngoài ra, nếu Thế suy thì người hỏi sẽ bệnh theo Hành hào Thế, ví dụ: Dần Mộc hào 2 tại âm là đau chân phải, hoặc Mộc suy là bệnh xương, gan, truyền dẫn thần kinh….
  • Hào động khắc hào Thế ở đâu, cũng báo về Bệnh, và những tai họa trong đời sẽ liên quan, ví dụ Tài khắc là Tiền hành, ngoài ra những năm Ứng kỳ về hào Động, cần tránh địa điểm thuộc Nội hoặc Ngoại thì cứ theo hướng ngược lại mà tránh họa: Nếu Thổ tại Ngoại, năm đó tránh đi xa mà mắc nạn giao thông; Mộc Nội, tránh cây gần nhà, Dần là cây nhỏ, Mão là cây to, giả như đi vào bụi lau đâm kim HIV cũng tựa vậy
  • Tính cách xuyên suốt cũng nằm tại hành Thế, và kết hợp Lục thần

Lục thú và thời điểm nổi bật trong đời

Ngoài ra, có thể kết hợp Lục thân trong quẻ kèm theo Lục Thú mà biết thêm tính chất sự kiện tại các năm.

Các thời điểm Ứng kỳ của Lục thân là thời điểm nổi bật của một sự kiện trong đời, giả như tiền thì lúc nào cũng cần, nhưng lúc Ứng kỳ với hào Vượng là năm có to, vì đời người, những lúc bất thường không nhiều.

Với các trường hợp xấu, thời điểm Thực không nếu Thế không là thời điểm sự xấu xảy ra, ví dụ: 13/4/1991 13h30' dương lịch, Ngày Quý Sửu tháng Mão:

Cấn Vi Sơn hóa Phong Sơn Tiệm Cung Cấn · Thổ
Quan Quỷ Dần Mộc Thế
Thê Tài Tý Thủy × Phụ Mẫu · Tỵ Hỏa
Huynh Đệ Tuất Thổ
Tử Tôn Thân Kim Ứng
Phụ Mẫu Ngọ Hỏa
Huynh Đệ Thìn Thổ

Thế tuần không mà Nguyên thần động hóa tuyệt, năm 2016 tức năm Thân, cuộc đời xuống hẳn, vì năm đó xung Không thực Thế để chịu việc Nguyên thần hóa tuyệt mà suy.

  • Thế ám động là người hay đi, suy nghĩ vụn
  • Thế động là hay đi
  • Về duyên nếu Dụng bị xung, đều chịu cảnh sống mỗi người một nơi, nếu vượng thì chỉ li thân rồi lại về, suy chịu cảnh đi xa

Xem thêm

Khái niệm liên quan

Thử áp dụng vào một quẻ thật: An quẻ Lục Hào Gieo quẻ Mai Hoa Các khái niệm khác